Tại sao con vẫn không thể yêu Chúa?

06:59 |
Thưa cha, con rất muốn yêu mến Chúa, nhiều khi con rất sốt sắng muốn yêu Chúa. Nhưng sau đó nhìn lại mình, con thật sự thấy mình hình như chẳng sốt sắng gì với việc đi lễ, đọc kinh sáng tối. Con không biết phải làm thế nào bây giờ ? Mẹ con hay kể cho con nghe những chuyện thế này, ví dụ: “Có anh này nghiện ngập, nhưng sau khi được ơn Chúa thánh hoá thì trở nên sốt sắng” v…v… Con cũng tin rằng sẽ có ngày Chúa thánh hoá trái tim con, nhưng con không làm cách nào được. Cha có thể chỉ cho con cách nào gần gũi với Chúa được không ? Năm nay con 13 tuổi nên con vẫn chưa muốn từ bỏ cuộc sống thế trần, vậy làm thế nào để con có thể vừa chơi vừa yêu Chúa ?
Giải đáp
Con quí mến,
Nhận được thắc mắc của con cha cảm thấy rất vui mừng vì thấy con đang quan tâm đến một điều rất quan trọng cho tâm hồn : đó là lòng yêu mến Chúa. Những khó khăn con đang cảm thấy cũng là những gi các tâm hồn đạo đức đã trải qua.
Lòng yêu mến Chúa không phải là một ước muốn phát xuất từ tâm hồn của con mà là tình yêu mến Chúa đã đặt vào lòng con để con có thể yêu mến Ngài. Những tâm tình sốt mến mà con cảm thấy cũng là sự khai mở để lôi kéo con đến với Chúa. Đó là những bước đi đầu tiên trong một hành trình thiêng liêng kéo dài suốt cuộc đời.
Con đã có những ước muốn rất tốt đẹp nhưng khi nhìn vào cuộc sống con lại thấy mình chưa sốt sắng trong việc đọc kinh và dự lễ. Điều đó cho con hiểu rằng “tinh thần thì hăng say nhưng thể xác lại yếu hèn”. Chúa Giêsu đã nói như thế với các Tông Đồ nơi vườn Cây Dầu khi thấy các ông không thể canh thức và cầu nguyện với Chúa.
Con muốn hỏi có cách nào để gần gũi với Chúa không thì Chúa cũng đã trả lời cho con rồi đó “Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Mát-Thêu 26, 41). Một việc rất đơn giản mà con có thể làm đuợc mỗi ngày là cầu nguyện. Con hãy nói với Chúa những ước nguyện của con. Con hãy nói là con muốn yêu Chúa lắm và xin Chúa giúp con, nâng đỡ con và thánh hoá con. Đừng chờ đợi một ngày nào đó con sẽ yêu mến Chúa nhiều mà ngay từ hôm nay con hãy tỏ lòng yêu mến Chúa ngay bằng lời cầu nguyện của con. Không cần phải đợi đến lúc đọc kinh con mới nhớ đến Chúa mà bất cứ lúc nào con có thời gian chỉ cần một phút thôi, con cũng có thể cầu nguyên với Chúa qua một lời nguyện nhỏ bé, ngắn gọn. Làm như vậy con sẽ có nhiều cơ hội gần gũi Chúa và con sẽ không khó khăn như khi con phải cầm trí lâu lúc đọc kinh. Con cũng có thể cầu nguyện cho những người xung quanh con nữa hay trong những khi gặp khó khăn hãy dâng lên Chúa một lời cầu nguyện để xin Người giúp đỡ con hoặc con thấy có một điều gì đó muốn nói với Chúa thì cứ tự nhiên mà tỏ bầy. Rồi Chúa sẽ cho con thấy Người hằng ở bên con và con sẽ con được thêm lòng yêu mến Người . Hãy dùng những lời nguyện tắt như : Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa- Lạy Chúa, xin giúp đỡ con- Lạy Chúa, xin cứu giúp những người nghèo khổ – Lạy Chúa, xin ban bình an cho cha mẹ, anh chị em con …
Để yêu mến Chúa không nhất thiết là phải từ bỏ thế gian theo cách nghĩ của những người xưa. Chỉ có những người đuợc kêu gọi đặc biệt sống đời tu trì mới cần sống tách biệt với trần thế thôi. Phần con, vẫn có thể vừa yêu Chúa vừa vui chơi như câu trả lời của thánh trẻ Savio khi được hỏi là nếu lát nữa tận thế thì sẽ làm gì. Ngài đã trả lời : Nếu con đang cầu nguyện thì sẽ tiếp tục cầu nguyện và nếu đang chơi thì cứ tiếp tục chơi…
Vào lứa tuổi của con thì hãy cố gắng sống ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành, siêng năng học Giáo Lý, tham gia sinh hoạt trong giáo xứ, năng viếng Chúa Giêsu Thánh Thể… Điều quan trọng là con hiểu được Chúa muốn con làm gì và khi con sẵn sàng làm theo điều Chúa muốn là con đã yêu mến Chúa rồi. Nếu con năng cầu nguyện nhất là cầu nguyện xin thêm lòng yêu mến Chúa. Chúa sẽ không từ chối ước nguyện ấy của con đâu. Chỉ có Chúa mới làm cho con yêu mến Người được thôi.
Chúc con luôn sống vui tươi và luôn ước ao sống đẹp lòng Chúa và xin Chúa cho con được thêm lòng yêu mến Người.
Lm Giuse Nguyễn Ngọc Bích CSsR

Tội Lỗi và Thánh Thiện

12:23 |
Mùa Chay lại về. Mùa Chay nhắc nhớ tới kiếp bụi tro của phàm nhân, đời tội lỗi của chúng ta. Ai là người có tội? Ai là người đạo đức? Nhưng có ai là tội nhân thánh thiện hay không? Có. Và có thể là chính mỗi chúng ta, nếu…
Như chúng ta biết, ai trong chúng ta cũng đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa nhân lành. Có người mãi mãi là tội nhân, nhưng có người là tội nhân rồi nên thánh, họ chính là các “tội nhân thánh thiện”. Nghe vô lý chăng? Không hề vô lý, mà lại rất hợp lý. Tại sao? Vì ai trong chúng ta cũng đều trải qua con đường tội-lỗi-và-thứ-tha, ngay cả những người đạo đức nhất, bởi vì đối với Thiên Chúa, bất kỳ ai cũng chỉ là những tội nhân. Có một số thánh nhân “nổi tiếng” về sa ngã, những người tội lỗi này đã thành tâm sám hối và nên thánh. Bạn có nhớ các “tội nhân thánh thiện” đó là ai?
1. DISMAS
Dismas là ai? Dismas, còn được viết là Dimas hoặc Dysmas, là người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu trên Đồi Sọ (Gôn-gô-tha), là người mệnh danh là “người trộm lành”. Khi tử tội kia (Dumachus) không biết phận mình mà còn phỉ báng và thách thức Chúa Giêsu, Dismas đã la mắng Dumachus: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:40-41). Rồi Dismas thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42). Chúa Giêsu nói với Dismas: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Quá “đã”! Cả đời trộm cướp, cuối cùng Dismas cướp luôn Thiên Đàng. Có lẽ không ai sướng bằng Thánh Dismas, được đồng hành với Chúa Giêsu vào Thiên đàng ngay lập tức!
2. PHÊRÔ
Phêrô là ai? Là Giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội Công giáo, được Chúa Giêsu trao trọng trách sau 3 lần phải xác nhận nhân đức yêu mến: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21:17). Thế nhưng Giáo hoàng Phêrô cũng là người bị Chúa Giêsu nguyền rủa nặng nhất: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16:23; Mc 8:33). Với kinh nghiệm “xương máu” đó, chính Thánh Phêrô đã khuyên hậu duệ: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ” (1 Pr 5:2). Ông Phêrô nóng tính và cương quyết, Chúa Giêsu báo trước mà ông vẫn nói mạnh. Nhưng rồi sự việc xảy ra đúng y boong. Ông sực nhớ điều Đức Giêsu đã nói với mình: “Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần” (Mc 14:72). Thế là ông oà lên khóc.
3. MÁTTHÊU
Mátthêu là ai? Là dân thu thuế. Thời đó, dân thu thuế bị liệt vào loại người tội lỗi. Nhưng khi đi ngang qua trạm thu thuế, Đức Giêsu thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi tại trạm. Ngài bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” (Mt 9:9), Mátthêu sẵn sàng bỏ mọi thứ và đi theo Đức Giêsu ngay, không chút lưỡng lự, không so đo hay tính toán gì. Và rồi Mátthêu còn là tác giả cuốn Phúc Âm thứ nhất.
4. PHAOLÔ
Phaolô là ai? Là dân biệt phái – Pharisêu. Sau khi trở lại, Phaolô đã trích Cựu ước khoảng 200 lần trong các thư gởi các Giáo đoàn. Là người Rôma, Phaolô đã đi khắp Đế quốc, nói 3 ngôn ngữ: tiếng Aram, tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp, đồng thời còn thông thạo tiếng Latin nữa. Trước khi ngã ngựa trên đường Damascus, Phaolô có tên là Saolô. Ngài đã từng than phiền về tính vô định của mình: “Điều tôi muốn thì tôi lại không làm, điều tôi không muốn thì tôi lại làm” (Rm 7:19). Nhưng nhiệm vụ lịch sử của Phaolô là “định mệnh đã không chọn một người khá hơn”. Thánh Phaolô là một trong hai cột trụ của Giáo hội.
5. NỮ TỘI NHÂN
Một phụ nữ bán loại hoa đặc biệt, một cô gái làng chơi hạng sang, “nổi tiếng” với đám dân chơi. Phụ nữ này là hiện thân của những người bị phỉ báng, chị là một phụ nữ tội lỗi, bị mọi người khinh bỉ, xa lánh, ghét bỏ, nhưng chị đã lấy nước mắt rửa chân Ðức Giêsu (Lc 7:36-50). Chủ nhà Simon không rửa chân và xức dầu thơm cho Chúa Giêsu, nhưng người-khách-tội-lỗi-không-mời-mà-đến đã lấy nước mắt rửa chân Chúa, lấy tóc lau chân Chúa, và xức dầu thơm chân Chúa. Tội lỗi ngập đầu nhưng được Chúa tẩy sạch và tha hết. Lý do Chúa đưa ra rất đơn giản: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7:47). Tình yêu mới quan trọng, và chính tình yêu mới có thể chiến thắng tội lỗi. Chiếc áo không làm nên thầy tu. Đừng xét đoán người khác!
Xin được “mở ngoặc” nhỏ: Đừng lầm lẫn mà cho rằng Thánh Maria Mácđala (Mađalêna) chính là phụ nữ tội lỗi này, người được Thánh sử Luca kể lại trong trình thuật Lc 7:36-48. Chúng ta cùng “xem xét” nghiêm túc:
Có người thuộc nhóm Pharisêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!”. Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!”. Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói”. Đức Giêsu nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?”. Ông Simôn đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn”. Đức Giêsu bảo: “Ông xét đúng lắm”.
Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simôn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít”. Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi”.
Trong Tân Ước, ngoài Đức Maria Mẹ Thiên Chúa (Mt 1:16), ai cũng đã rõ, chúng ta thấy có vài phụ nữ khác cũng tên là Maria: Maria Mácđala và một Maria khác (Mt 28:1), Maria vợ ông Cơlôpát (Ga 19:25), Maria mẹ ông Giô-xết (Mc 15:47), Maria mẹ ông Giacôbê (Mc 16:1). Maria mẹ ông Giacôbê Thứ (Nhỏ, tác giả Thư Thánh Giacôbê và lãnh đạo Giáo hội Giêrusalem, khác với Giacôbê Lớn) và Maria mẹ ông Giô-xết cũng là một: “Có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết, cùng bà Salômê” (Mc 15:40).
Nói về các phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, Thánh sử Luca cho biết: “Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai và mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ” (Lc 8:1-3).
Thánh Máccô cho biết rõ: “Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ” (Mc 16:9). Rõ ràng Maria Mácđala chính là người-được-trừ-khỏi-bảy-quỷ (do Chúa Giêsu chữa), tức là Maria ở Mácđala, chắc chắn khác với Maria ở Bêtania. Bêtania là nơi mà Thánh Gioan xác định: “Bêtania cách Giêrusalem không đầy ba cây số” (Ga 11:18).
Thánh sử Gioan (Ga 12:9-11) cho biết thêm điều liên quan dạ tiệc mà Chúa Giêsu được một phụ nữ xức dầu thơm: “Một đám đông người Do-thái biết Đức Giêsu đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giêsu, nhưng còn để nhìn thấy anh Ladarô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Các thượng tế mới quyết định giết cả anh Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu”.
Trước đó, Thánh sử Gioan (Ga 11:1-2) đã cho biết: “Có một người bị đau nặng, tên là Ladarô, quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh Ladarô, người bị đau nặng, là em của cô”. Thánh Gioan cho biết các chi tiết rất rõ ràng. Sau đó, Thánh Gioan cho biết rằng Ladarô chết và được Đức Giêsu cho sống lại, dù đã an táng 4 ngày và nặng mùi rồi.
Như vậy, rõ ràng người phụ nữ mà chúng ta gọi là tội nhân kia KHÔNG PHẢI là Maria ở Mácđala, mà chính là Maria ở Bêtania – em gái của Mácta và chị của Ladarô.
Còn Maria Mácđala thì sao? Thánh Gioan cho biết: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala” (Ga 19:25). Trong lúc “dầu sôi lửa bỏng”, không thấy Kinh Thánh nói tới hai chị em Mácta và Maria, nhưng xác định tên rõ ràng: MARIA MÁCĐALA (Maria Mađalêna).
Tất cả là nhờ Lòng Chúa Thương Xót, vì con người rất yếu đuối. Nếu không có Lòng Chúa Thương Xót thì chẳng ai xứng đáng hưởng nhờ Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Nhưng thật là may mắn, dù chúng ta chỉ là tội nhân, và dù chúng ta có tội lỗi thế nào thì hãy vững tin vào Thiên Chúa, chứ đừng tuyệt vọng. Tạ ơn Chúa muôn đời!
Ai tội lỗi hoặc ai thánh thiện? Hãy đọc lại trình thuật Lc 18:10-14, câu chuyện này do Chúa Giêsu đưa ra:
Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pharisêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pharisêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con”. Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
Chúa Giêsu kết luận: “Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
Hãy đấm ngực mình và cố gắng tu tâm dưỡng tính, đừng liếc xéo người khác!
TRẦM THIÊN THU

Đức Thánh Cha Phanxicô, Giáo Lý Về Niềm Tin Tưởng Cậy Trông

19:50 |
Xin chào anh chị em thân mến!
Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng Thiên Nhiên Tạo Vật là tài sản của chúng ta, một sở hữu chúng ta có thể khai thác theo sở thích của mình và chúng ta chẳng cần quan tâm đến ai. Thế nhưng, ở đoạn Thư gửi Roma (8:19-27), đoạn chúng ta vừa nghe một phần, Tông Đồ Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Nhiên Tạo Vật là một tặng ân tuyệt vời được Thiên Chúa trao vào tay chúng ta, nhờ đó chúng ta tham phần vào mối liên hệ với Ngài và nhận ra dấu hiệu dự án yêu thương của Ngài, một dự án chúng ta được kêu gọi để từng ngày hợp tác để hiện thực sự nó.

Làm Thánh Sống

06:40 |
Người ta chết rồi mới được làm thánh, chưa chết mà sao làm thánh? Làm gì có chuyện “ngược đời” như thế chứ?
Đúng vậy, nhưng NGHỊCH mà lại hoàn toàn THUẬN đấy. Tại sao? Chết rồi mà làm thánh là “chuyện nhỏ”, sống mà làm thánh mới là “chuyện lớn”. Thật chứ không đùa. Vì Chúa Giêsu đã truyền lệnh: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).

Lựa Chọn

06:51 |
Trong cuộc sống thường nhật ta thường có những sự lựa chọn với nhiều phương diện khác nhau như: thái độ đối với bản thân-tha nhân, tình cảm, mục tiêu, tương lai, nghề nghiệp, ước mơ, ý nghĩa cuộc đời… Nhưng những lựa chọn, quyết định đó có giúp ta thăng tiến bản thân hay những người xung quanh không? Có thể hiện sự tôn trọng hoặc bảo vệ tư cách, đạo đức của bản thân ta và người khác không? Đó là những vấn đề cần đặt ra cho sự lựa chọn.
Lựa Chọn
Lựa Chọn
Lựa chọn giữa điều tốt-điều xấu đã khó, giữa điều tốt và tốt hơn lại càng khó khăn hơn. Vì vậy ông bà thường dạy con cháu: “làm người phải đắn phải đo/ phải toan phải tính phải dò nông sâu” (Ca dao Việt nam).


1.Bản chất của sự lựa chọn
 
Ngay từ “lựa chọn” cũng đã thể hiện bản chất của nó, “lựa” rồi sau đó mới “chọn”. Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Có những lựa chọn làm ta đắn đo, giằng co, cân phân kỹ càng để tránh những lầm lẫn đáng tiếc. Vì sau những sự lựa chọn sẽ tạo ra những khúc quanh mới cho cuộc đời, và “kết quả cuối cùng của ta khi sống trên đời này, sẽ luôn là tổng số của những chọn lựa do ta đặt ra trong khi sống” (Shad Helmstetten).
Bản chất của sự lựa chọn đã là vấn đề, và không lựa chọn cũng là một chọn lựa. Tùy từng vấn đề, sự việc mà ta có từng tiêu chuẩn lựa chọn riêng, khi so sánh trên cùng một hay nhiều bình diện, để có cùng một giá trị hay không? Và giá trị đó là gì? Như sống trong thời hậu Khai Minh người ta cho rằng: “Tư duy khoa học là chìa khóa cho mọi vấn đề quan trọng trong thế giới này”. Nhưng thế giới giá trị hoàn toàn khác so với thế giới khoa học. Độ dài, cân nặng, khối lượng không thể so sánh với những giá trị đạo đức, tình yêu, công bình, bác ái…Do đó, dùng phương án tương đương khi so sánh trên nhiều phương diện, đó mới là chọn lựa khả dĩ.
Ngoài ra, khi đối diện với những lựa chọn khó, nó thường khai thác sức mạnh tiềm ẩn trong ta. Chính khi hội tụ đủ các yếu tố ngoại tại và nội tại, đến lúc thuận lợi nó sẽ tạo nên hiệu ứng mà ngay chính bản thân ta cũng không ngờ. Với lựa chọn khó ta có thể phản chiếu những yếu tố của nó vào bản thân, vào lý tưởng sống, mục đích sống của ta, và thông qua lựa chọn đó ta trở thành con người đó với chính căn tính của mình. Bởi vì những chọn lựa khó là:“nấc thang cho bậc anh tài, là kho tàng cho người khôn ngoan và là vực thẳm cho kẻ yếu đuối ”.
Và rồi, việc lựa chọn đúng hay sai không quan trọng cho bằng qua lựa chọn đó ta hiểu rõ hơn về: sự vật, hiện tượng, vấn đề quanh ta, và càng quý giá hơn là đào luyện bản thân, và hiểu rõ về bản ngã của mình. Vì “Tự biết mình” là điều quan trọng nhất, cấp thiết nhất, và cũng là triết lý mà triết gia Socrate cả đời đã rao giảng.
2.Thái độ khi lựa chọn
-Tham khảo ý kiến từ người khác. Chính ta cần chủ động trong những lựa chọn lớn nhỏ hằng ngày. Cuộc sống sẽ thành hay bại, ý nghĩa hay vô nghĩa, tầm thường hay cao quý đều do ta lựa chọn. Nhưng có nhiều thái độ khi đối diện với sự lựa chọn. Để tránh bớt những sai lầm, ta có thể đi bàn hỏi từ những bậc thầy thông thái, nhất là những người có kinh nghiệm chuyên môn về vấn đề ta đang cần suy tính. Qua đó ta có thêm kiến thức, kinh nghiệm, sự khôn ngoan để rồi quyết định lựa chọn của ta được thành công tốt đẹp.
Tự mình phân định. Ta có thể tự mình suy xét, lọc lựa, phân tích những lựa chọn. Nhiều người thường chia tờ giấy làm hai và liệt kê những phương án với thông tin, dữ liệu gồm ưu điểm, khuyết điểm; tích cực, tiêu cực…xét trên cùng một, hay nhiều phương diện, để rồi đưa hết lên bàn cân giá trị, và chọn ra một phương án khả thi nhất. Phương cách này khả quan, nhưng đòi ta xem xét sự lựa chọn này trong thái độ cụ thể, rõ ràng, khách quan.
Tin vào vận may. Cũng có người lo sợ lựa chọn của mình sẽ làm cuộc sống bế tắc nên đành phó mặc cho vận may rủi của nhân duyên. Họ có thể tung đồng xu lên và quan niệm rằng: “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, hay theo kiểu: “ai nói sao tôi làm vậy” để rồi “vâng lời tối mặt”. Với quan niệm chủ quan này họ là người trôi giạt, vì cho phép sự hên xui, hay người khác viết lên kịch bản cuộc đời mình. Lối sống này dần thui chột óc sáng tạo, khả năng tư duy phán đoán. Tệ hơn nữa là đánh mất chính mình. Bởi vì lựa chọn khó có những cơ hội quý giá của nó. Vì vậy: “Người bản lĩnh thì tin vào bản thân mình, người tầm thường thì tin vào vận may” (Benjamin Disraeli).
Do dự vì muốn “bắt cá hai tay”. Có người muốn “bắt cá hai tay”, muốn chọn cả hai phương án. Nhưng khi tình thế đòi buộc chọn một trong hai thì họ lại đắn đo do dự. Có khi họ biết rõ những giá trị đích thực con đường phải đi nhưng lại không đủ can đảm để lựa chọn. Để rồi hậu quả tổn thất là lẽ đương nhiên. Trong bài hát Gieo bước hành trình có câu: “đừng phân vân, bi quan sẽ làm tất cả muộn màng, cuộc sống quanh ta luôn vội vã”. Vì vậy, khi tình trạng do dự kéo dài một nguồn năng lượng lớn trong ta nhanh chóng bị tiêu hủy. Để rồi chẳng được gì mà lại tổn thất hư hao, tệ hơn nữa có thể là mất trắng.
Sợ thất bại. Có nhiều người sợ thất bài đến nỗi không dám chọn lựa. Người xưa thường nói: “Tiên cũng có khi đọa, thánh cũng có khi lầm”. Abraham Lincoln đã kinh qua hết thất bại này đến thất bại khác trong suốt 28 năm. Năm 1833, ông mắc chứng suy nhược thần kinh và bị thua cuộc khi ra ứng cử chức vụ phát ngôn viên. Năm 1848, ông bị thua cuộc tái nhiệm chức vào Quốc Hội và bị gạt bỏ chức nhân viên đất đai (land officer) vào năm 1849. Năm 1854, ông bị thua trong cuộc bầu cử vào Thượng Nghị Viện. Hai năm sau ông lại bị thua trong cuộc bổ nhiệm vào chức phó tổng thống và một lần nữa thất bại trong cuộc bầu cử cho Thượng Nghị Viện năm 1858. Tuy nhiên, lòng ông vẫn kiên định, bất chấp những thất bại. Năm 1860, ông đắc cử tổng thống và đi vào lịch sử là một trong những tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ. Vì vậy, hãy cứ mạnh dạn, can đảm bước đi trên con đường ta đã lựa chọn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng từng thổn thức: “Ai nên khôn không khốn một lần…dậy mà đi…” vì vậy “cứ đi ắt sẽ đến” (Ts. Alan).
3.Tình yêu là nền tảng của sự lựa chọn
Tình yêu là giá trị cao cả nhất. Bởi vì điều quan trọng làm nên cuộc sống cao đẹp không phải là: những tài sản lớn lao, học vị tiến sĩ, kỹ sư, chồng giỏi, vợ đẹp, con khôn hay được mọi người vỗ tay ca tụng…Nhưng, “vì Thiên Chúa là tình yêu nên giá trị lựa chọn chính yếu cũng là tình yêu. Tôi sẽ đưa giá trị đó vào trong những công việc rất bình thường của đời sống hằng ngày, để rồi lựa chọn hay làm việc tất cả đều phát xuất từ tình yêu mến Chúa và tình yêu thương anh chị em ” (x. HTXHCG, số 580).
4. Cầu nguyện trước những lựa chọn.
“ Hoạt động mà không cầu nguyện là vô ích trước mặt Chúa. Máy móc tự động có thể làm tốt hơn ta” (x. Số 117 Đường Hi Vọng). Thật vậy, sống là hoạt động, mà sự hoạt động được hòa điệu trong tâm tình cầu nguyện. Cầu nguyện không phải là phương cách giúp ta thoát ly nỗi lo lắng, sợ hãi,  nhưng cầu nguyện là thái độ sống tin yêu, phó thác. Khi cầu nguyện ta không mong Chúa đổi ý, cứu ta thoát khỏi những khổ ải, phiền não hay sự chết, nhưng cầu nguyện chính là gặp gỡ Chúa với nỗi lo lắng, giằng co của thân phận con người, mỏng giòn yếu đuối, để từ đó ta bình tâm và xác tín rằng : “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14,8)
Đi vào cầu nguyện, Ta sẽ đặt ý Chúa lên trên hết, nhất là trong những sự lựa chọn. Để rồi, nội tâm ta chan hòa sức sống, can đảm, mạnh mẽ, dễ chỗi dậy trong mọi tình trạng, vì tâm hồn luôn có Chúa ở cùng, chính Ngài sẽ nâng đỡ và làm cho ta những điều kỳ diệu (1V 19,1-8). Chúa muốn nói với ta như đã từng nói với Giôsuê rằng, “Ta há không có dặn ngươi sao? Hãy mạnh dạn và can đảm lên. Đừng sợ sệt, đừng chán nản, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi sẽ ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Gs 1,9).
5. Lựa chọn trong đức tin .
“Không phải lúc nào ta cũng hiểu hết con đường mình đã chọn, vì vậy chỉ cần tiên đoán hơn một nửa là may mắn lắm rồi. Phần còn lại ta tiếp tục trải nghiệm, khám phá với tất cả bản lĩnh tài năng của mình” (Thiền sư Minh Niệm). Lựa chọn, đây là quyết định để đi vào một cuộc hành trình và càng tuyệt vời hơn khi ta biết tin tưởng, phó thác đời mình trong tay Chúa. Để chính Ngài hoạch định nên cuộc đời ta “như ta là”. Vì mỗi người là một công trình riêng biệt của Thiên Chúa, mà Chúa Thánh Thần đang âm thầm xây dựng.
“Đức tin giúp chúng ta tiến bước và hiện hữu” (x. Is 7,9), và châm ngôn: “Crede ut intellias” nghĩa là “Tin để hiểu”. Tin thác vào Chúa để hiểu Chúa hơn và thấy được Chúa đang đồng hành với ta trong những chọn lựa, quyết định để rồi ta càng có thêm những kinh nghiệm mới về chính mình và về Thiên Chúa, bởi vì “những kinh nghiệm mới về Thiên Chúa được định hình nhờ đức tin có sẵn” (Nhà thần học Ormond Rush).
Nhìn lại lịch sử Cựu ước và Tân ước, có nhiều mẫu gương đáng để ta học hỏi trong vấn đề chọn lựa. Nổi bật là tổ phụ Apraham. Khi đã 75 tuổi, Ngài ra đi về vùng đất mà Thiên Chúa chỉ định với sự vâng phục trong đức tin. Khi phải đem người con duy nhất lên núi hiến tế, Ngài cũng một lòng ký thác nới Thiên Chúa…Ngài có tự do để lựa chọn theo ý riêng mình. Nhưng đức tin dẫn dắt sự chọn lựa, để rồi Apraham được đẹp lòng Thiên Chúa và được lưu danh hậu thế như là cha của vô số dân tộc, là cha của kẻ tin. Mẹ Maria cũng vậy, đối diện với những sự lựa chọn: cưu mang Đấng Cứu Thế, làm Mẹ Thiên Chúa, đồng công chuộc tội nhân loại…Có thể xem những chọn lựa của Mẹ là đi vào cuộc phiêu lưu, mà có thể nguy hai đến cả tính mạng. Nhưng từ tiếng “xin vâng” trong đức tin, Mẹ đã vâng phục Thiên Chúa cách triệt để (x. Lc 1,45). Để rồi Mẹ được Thiên Chúa vinh thưởng với biết bao danh hiệu cao vời, và đời đời ca tụng.
Tóm lại, “ta đừng quá lo lắng cho con đường mình đã chọn hay phải chọn, vì thái độ bước đi trên con đường đó mới thực sự quan trọng” (x. Hiểu về trái tim). Thái độ đó là: “can đảm bước đi trên những lựa chọn của mình với tất cả trí tuệ, sức mạnh của con tim và niềm tin tưởng lạc quan nơi quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tác tạo và hướng dẫn muôn vật theo kế hoạch yêu thương nhiệm màu của Ngài”  (x. Đường vào thần học về tôn giáo- Nguyễn Thái Hợp, O.P).

Giuse Nguyễn Minh Đức Giáo xứ Đức Mẹ La Vang kinh B2
Nguồn tin: WGPLX

Cầu Nguyện Với Con Cái

08:34 |
Bạn có cầu nguyện chung với con cái? Có thường xuyên? Tại sao có, tại sao không?
Cầu nguyện còn hơn là một hoạt động ngoại khóa. Thực phẩm dinh dưỡng, ngủ nghỉ và không khí trong lành cần thiết cho sự phát triển thể lý của con cái, cầu nguyện cần thiết cho sự phát triển của linh hồn lành mạnh.
Có nhiều cách để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện của con cái. Đây là 7 gợi ý:

Hội chứng tu xuất

10:28 |
Tu xuất tự nó không phải là một bậc sống, nhưng là một thành phần quan trọng trong nhịp sống Giáo hội. Có lẽ, cuộc đời chúng ta không ai hiểu hết được chữ “ngờ”, và vì thế, xuất tu cũng hàm chứa những lý do khó nói lên lời. Đôi dòng tản mạn và những cảm nghiệm riêng tư của tác giả về những người tu xuất có lẽ sẽ là tâm tư của bất kỳ ai đó muốn đồng cảm, muốn yêu thương, muốn sẻ chia với những con người đặc biệt này.
 
Nói về người tu xuất có thật lắm khía cạnh để người ta phải suy nghĩ, bàn luận. Trước hết, có lẽ chúng ta nên khởi đi từ hai tiếng “Ơn gọi”. Ban đầu, nhiều bạn trẻ lắng nghe được tiếng Chúa gọi, họ hăng hái dấn thân vào đời tu với tất cả nhiệt huyết của một con tim căng đầy sức sống. Nhưng rồi, cuộc đời có trăm ngàn lối đi khiến họ không còn giữ được nét trinh trong và nhiệt huyết thuở ban đầu. Giã từ chốn Viện tu, họ nghe theo một tiếng gọi khác và đi tìm cho mình một niềm vui giữa đời thường. Có những người tìm về chốn hồng trần để mong tìm một mái ấm, một niềm hạnh phúc dẫu mong manh nhưng thật đơn thành; có những người can đảm tiếp tục rong ruổi dấn thân trên hành trình dâng hiến đầy cát bụi... Trong số đó, có những người đã nhận ra chân lý sống và họ đã làm trổ sinh hoa trái giữa cuộc đời; nhưng rồi lại cũng không thiếu những người chìm ngập trong cô đơn, thất vọng và bị dòng đời vùi lấp, cuốn trôi.
 
Tại sao cuộc đời người tu xuất lại rơi vào bất hạnh? Nhiều người cho rằng: vì anh đó, chị đó đã ăn cơm nhà Chúa Trời, nay quay gót về với thế gian thì đương nhiên phải chuốc lấy hậu quả. Nghe thoáng qua thật quá phũ phàng, chẳng lẽ Thiên Chúa lại là kẻ dữ dằn và khát máu trả thù đến vậy ư? Chắc chắn không phải thế. Sở dĩ người tu xuất khi trở về đời thường, cuộc sống của họ không mấy hạnh phúc có lẽ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi họ còn sống trong Ơn gọi, họ làm mọi việc đều có chương trình, kế hoạch, mọi sự xem ra an nhàn, thư thái, nay trở về thế gian, họ phải bươn trải với cuộc sống cơm áo gạo tiền, đó là một thử thách lớn lao đối với họ. Hơn nữa, suốt thời gian sống trong Dòng tu hay Chủng viện, người tu chỉ lo trau dồi tri thức để chuẩn bị lãnh chức thánh hay khấn dòng, họ đâu biết mùi thế nhân đoạn trường ra sao? Nay trở về đời thường trăm ngàn sóng gió, bể dâu, sức đề kháng của những con người này sẽ vô cùng mong manh, yếu ớt. Vì thế, họ ít tìm được những cơ hội trong cuộc sống, trong khi cuộc đời lại quá khắt khe đối với họ. Thành ra, người xuất tu khó có thể tìm được cho mình một cuộc sống bình an và hạnh phúc.
 
Ngày nay, người ta nhiều khi có ác cảm và thành kiến nặng nề với người tu ra. Họ cho rằng: việc ông Thầy, bà Sơ giũ áo Dòng ra về lấy vợ, lấy chồng là chuyện chẳng nên. Ngoài việc bị kết án là ham muốn thế gian, xác thịt, lại còn bị gán cho cái tội tày đình là bội ơn nhà Đức Chúa Trời. Bao nhiêu tiền bạc, cơm gạo nuôi ăn giờ đây trở về con số không tròn trĩnh. Họ căm tức người tu ra vì cho rằng: cô, cậu đã bôi gio, chát trấu vào mặt cha mẹ, tiên tổ, ông bà. Thanh danh đang lên như “diều gặp gió” nay chẳng khác chi “lá chuối gặp bão” xác xơ bên đường. Cha mẹ thì khăng khăng dán chặt con mình trên bàn thánh, chôn chân con mình trong chốn Viện tu bằng bất cứ giá nào, nhưng cũng chẳng hay chẳng biết rằng: con mình không có khả năng sống đời Ơn gọi. Họ chỉ biết một điều: việc trở về gia đình sau hành trình tu trì dang dở là chuyện không thể chấp nhận được. Họ cũng đâu biết rằng: việc quyết định ngả sang một Ơn gọi khác không phải là chuyện dễ dàng như người ta vẫn lầm tưởng. Trước khi về đời, người xuất tu đã phải đón nhận sức ép thật khủng khiếp từ phía dư luận, bà con lối xóm. Thật là đáng sợ!
 
Hơn thế nữa, nhiều người xuất tu mang theo suốt cuộc đời mình mặc cảm tội lỗi vì biết mình đã làm hỏng ơn Chúa. Bao nhiêu chữ “giá mà” thế này, “phải chi” thế thế kia cứ đeo bám và ám ảnh trong trí não. Bao nhiêu nước mắt đã lặng lẽ buông xuống dòng đời; bao nhiêu tiếng thở dài não nề trôi theo giọt nắng, giọt mưa; bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu chán ngán cuộc đời, bao nhiêu mỏi mòn, tăm tối giăng ngập lối về… Thật xót xa, thật phũ phàng! Mọi sự giờ đây đã quá muộn cho một lời xin lỗi, chỉ còn lại đây những giọt lệ buồn của cay đắng, xót xa. Nỗi đau khiến họ ăn không ngon, ngủ không yên, và vì thế họ cảm thấy bất hạnh và đau khổ. Mọi cánh cửa hy vọng dường như đã đóng chặt khiến họ không còn lối thoát. Cuộc đời thật quá khắt khe với họ.
 
Nói về người tu xuất với biết bao cảm xúc và nghĩ suy, nhưng chúng ta không thể nào không thừa nhận vị trí và vai trò của họ trong Giáo hội và ngoài xã hội. Nhiều người tu xuất đã trở thành cánh tay đắc lực của Cha xứ và của xóm đạo. Các hội đạo đức, các công việc bác ái, các hoạt động từ thiện có thăng tiến được cũng là nhờ phần nhiều vào những con người nhiệt thành này. Họ là những người trí thức, được đào luyện bài bản trong Chủng viện, nơi Dòng tu nên cũng đã trang bị cho mình một sự trưởng thành vừa đủ trước khi đối mặt với cuộc đời. Họ làm việc có cái tâm và trở nên những con người đáng tin cậy trong Cộng đoàn. Vì thế, chúng ta cần đặc biệt tôn trọng, cảm phục và cầu nguyện cho họ, để giúp hăng say và nhiệt thành chu toàn bổn phận làm người Kitô hữu của mình.
 
Đôi dòng suy tư về giới tu xuất không phải là bao che, dung dưỡng, nhưng là tấm lòng trân trọng, cảm thông và tri ân. Thiên Chúa đã dùng họ cách âm thầm để làm việc trong vườn nho của Ngài. Không ít thì nhiều, những việc làm và những hy sinh lớn lao của họ cũng làm cho vườn nho Chúa được trổ sinh hoa trái. Viết về người tu xuất giúp chúng ta có cái bao dung hơn, yêu thương hơn, đồng cảm hơn, vì mọi người dù là ai, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều là những con người bất xứng trước mặt Thiên Chúa và ai trong chúng ta cũng cần đến lòng thương xót và ân sủng của Ngài. Đây cũng là một lần giúp chúng ta hâm nóng lại tình yêu với Chúa, hun đúc khát khao dâng hiến của mình. Ước mong sao dù cho bao khó khăn, thử thách, chúng ta cũng hãy luôn trung thành với Chúa đến cùng.
 
Diệu Tâm, BC
Nguồn: Gpbuichu.org