Đức Thánh Cha tôn phong hiển thánh đầu tiên của Sri Lanka

20:25 |
COLOMBO. Sáng ngày 14-1-2015, ĐTC Phanxicô đã chủ sự lễ tôn phong cha Joseph Vaz, tông đồ tại đảo Tích Lan, lên bậc hiển thánh, trước sự hiện diện của hơn nửa triệu tín hữu tại thủ đô Colombo của Sri Lanka.

Lúc 7 giờ rưỡi, ĐTC đã rời tòa sứ thần Tòa Thánh để ra công viên Galle Face Green cách đó 2 cây số rưỡi. Công viên này ở trung tâm khu vực tài chánh của thủ đô Colombo, trải dài 5 cây số dọc theo bờ biển. Cũng tại nơi đây, cách đây 20 năm, ngày 21-1 năm 1995, Thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng đã chủ sự thánh lễ trọng thể lúc 10 giờ sáng trước sự hiện diện của 300 ngàn tín hữu, để tôn phong Cha Joseph Vaz lên bậc chân phước.

Đến công viên, ĐTC Phanxicô đã dùng xe díp tiến qua các lối để để chào thăm hơn 500 ngàn tín hữu tụ tập tại đây. Nhiều người phải đứng ở ngoài vòng đai công việc. Họ từ các nơi trên toàn quốc về đây, cả những vùng xa xăm ở miền bắc Sri Lanka với đa số dân là người Tamil. Hàng ngàn người đã đến đây từ chiều hôm trước và ngủ đêm tại chỗ để sẵn sàng dự lễ.

Chính phủ cũng giúp đỡ các tín hữu bằng cách cho hằng trăm xe bus của Nhà Nước đến các giáo xứ để chở những tín hữu muốn tham dự về thủ đô Colombo. Thêm vào đó, theo lệnh của bộ trưởng giao thông Sri Lanka, có 22 chuyến xe lửa đặc biệt và giá vé được giảm bớt 50% để tạo điều kiện cho các tín hữu có thể về thủ đô Colombo. Trong số hàng trăm ngàn người tham dự thánh lễ, đặc biệt có 1 ngàn tín hữu từ giáo phận Goa bên Ấn độ là giáo phận nguyên quán của thánh Joseph Vaz. Ngoài ra, chính quyền cũng huy động 28 ngàn nhân viên cảnh sát và an ninh để giữ trật tự trong những ngày ĐTC viếng thăm.

Đến gần nhà thánh, trước khi mặc áo lễ, để cử hành thánh lễ, ĐTC đã được ông đô trưởng thành Colombo chào đón và trao tặng chìa khóa của thành phố.

Trước lễ đài, ĐTC đã được một đoàn vũ của Sri Lanka, gồm cả nam lẫn nữa, chào đón qua những điệu vũ cổ truyền. Họ cũng trình diễn các vũ điệu trong một số phần của thánh lễ.

Trước lễ đài cũng có chỗ danh dự có mái che cho tân tổng thống Serena, một phật tử.

Đồng tế với ĐTC không những có 20 GM Sri Lanka, các vị thuộc đoàn tùy tùng, nhưng có thêm 4 HY từ Ấn độ, hàng chục GM thuộc các nước Á châu, kể cả Việt Nam, 1.100 linh mục. Ngoài ra có cả LM Cosme Jose Costa, 76 tuổi, thuộc giáo phận Goa bên Ấn độ, là người đã được phép lạ của thánh Joseph Vaz hồi năm 1938, khi mẹ ngài mang thai cha đến tháng thứ 7 bà bị băng huyết trầm trọng, nhưng cha Costa đã chào đời bình an nhờ mẹ và những người thân cầu xin cha Vaz cứu giúp.

Trong số các ca viên thuộc các ca đoàn đảm trách phần thánh ca, đặc biệt có nhiều bạn trẻ nghèo, được chọn từ các giáo phận trên toàn quốc.

Trong nghi thức phong hiển thánh, sau bài ca xin ơn Chúa Thánh Thần, Đức Cha Joseph Vianney Fernando, GM Kandy nơi cha Joseph Vaz qua đời, đã xin ĐTC cử hành việc phong hiển thánh cho cha. Rồi Đức Cha Sebastião do Rosarío Ferrão, TGM giáo phận Goa bên Ấn độ, đã tóm lược tiểu sử của cha:

Tiểu sử thánh Joseph Vaz

Cha Joseph Vaz sinh năm 1651 tại làng Benaulim thuộc lãnh thổ giáo phận Goa bên Ấn Độ, song thân là người Bồ đào nha. Tốt nghiệp trung học, Joseph Vaz gia nhập chủng viện và năm 1676, và năm 25 tuổi, thầy Vaz thụ phong linh mục.

Trong những năm đầu, tân linh mục chưa nhận được bài sai đặc biệt nào, nên đã xin về hoạt động mục vụ tại Sancoale, nơi gia đình song thân sinh sống. Nhờ khiếu giảng thuyết và lòng nhiệt thành hoạt động tông đồ, nhất là ban phát bí tích hòa giải, chẳng bao lâu sau, danh tiếng của vị linh mục trẻ lan rộng. Cha Vaz còn mở một trường dạy tiếng la tinh ở Sancoale để giúp đỡ các bạn trẻ muốn đi tu.

Một năm sau ngày chịu chức, cha Vaz dâng một thánh lễ trọng thể tại nhà thờ Đức Bà phù Trợ ở Sancoale, trong đó, cha long trọng dâng hiến đời mình làm tôi tớ của Mẹ Maria. Hiện nay, bức thư do chính cha viết trong dịp đó vẫn còn được lưu giữ. Cha Vaz cũng quy tụ một nhóm linh mục khao khát sống đời khổ hạnh thành một hội dòng được Đức Giám Mục sở tại chấp thuận và chuẩn y luật dòng, đồng thời cha được bầu lên làm bề trên tiên khởi của dòng mang tên là giảng thuyết của thánh Philiphê Neri.

Cũng trong thời gian này, cha Vaz được tin Giáo Hội Công Giáo tại Tích Lan không có người chăm sóc từ 50 năm trước đó, nghĩa là từ ngày quân Hòa Lan theo phái Tin Lành cải cách chiếm đóng vùng này. Lòng nhiệt thành tông đồ thúc đẩy cha Vaz từ bỏ nhiệm vụ bề trên để xin đi truyền giáo tại Tích Lan, mặc dù nhà cầm quyền Hòa Lan cấm cách. Giả dạng một người hành khất, cha Vaz mấy lần tìm cách lén vào lãnh thổ Tích Lan nhưng mãi đến dịp lễ Phục Sinh năm 1867, cha mới lên được con tàu đưa sang bán đảo Jaffna, tây bắc Tích Lan, thành lũy kiên cố của quân đội Hòa Lan thực dân. Được một gia đình Công Giáo tiếp đón và chở che, cha bắt đầu tìm kiếm và thu thập các tín hữu Công Giáo. Chính quyền thực dân Hòa Lan đánh hơi thấy sự lạ giữa cộng đồng Công Giáo, nên ra sức lùng bắt vị linh mục này. Mấy lần cha bị chặn xét, nhưng nhờ tài cải trang, cha được họ thả cho đi. Sự hiện diện của cha tại Jaffna trở thành một nguy hiểm đe dọa cả tính mạng của cha lẫn gia đình thân quyến của người dám chứa chấp cha. Vì thế cha buộc lòng phải dời sang Sillalai, một thị trấn toàn người Công Giáo phụ cận Jaffna. Từ đó cha mở rộng hoạt động mục vụ sang các thị trấn gần đó.

Mùa Giáng Sinh năm 1689, viên tư lệnh quân đội Hòa Lan âu lo vì sức sống đạo của tín hữu Công Giáo đang được phục hồi nên quyết lòng lùng bắt cha Vaz, nhưng không thành công. Từ Sillalai, cha Vaz sang thành Puttalam, nơi có hơn 1000 tín hữu từ hơn 50 năm chưa bao giờ được thấy linh mục nào. Cha đến vương quốc Kandy trong vùng Puttalam, với hy vọng xin quốc vương tại đây cho phép tự do đi lại thăm viếng các tín hữu nơi đây. Nhưng vì lời dèm pha của một người Hòa Lan theo Tin Lành Cải Cách, nên cha Vaz cùng hai người Công Giáo khác bị bắt giam. Cha lợi dụng ngay thời gian bị giam cầm để học tiếng bản xứ và soạn thảo một cuốn từ điển tiếng địa phương.
Khi thấy hạnh kiểm tốt của người tù, bọn cai tù cũng nới tay thả lỏng việc kiểm soát. Năm 1692, cha đã được vua Kandy là Wimaladharmasuriya, một phật tử, cho phép dựng một căn lều trong vườn rau của nhà giam để dâng lễ Giáng Sinh. Ít lâu sau, căn lều này đã được biến đổi thành một nhà thờ dâng kính Đức Mẹ để cầu xin ơn trở lại cho người ngoại đạo.

Dù bị cầm tù, cha Vaz vẫn âm thầm hoạt động mục vụ cho các tín hữu tìm đến thăm cha. Một sự kiện lạ thường đã chấm dứt thời gian cầm tù của cha: lúc ấy, nước Kandy lâm nạn hạn hán nặng nề. Các nhà sư Phật giáo lập đàn theo lời yêu cầu của nhà vua để cầu mưa nhưng không được kết quả nào. Vua Kandy nhờ đến cha Vaz. Cha xin nhà vua cho dựng một lễ đài với một Thánh Giá giữa quảng trường, rồi cha quỳ xuống cầu nguyện. Trời mưa xuống thật và lại mưa nhiều nữa, nhưng cha và lễ đài vẫn khô ráo không bị ướt chút nào. Sau biến cố lạ lùng này, vua Kandy trả tự do và cho phép cha Vaz được tự do giảng đạo mọi nơi.

Những năm sau đó, cha Vaz đã tận dụng tự do để tổ chức và củng cố hệ thống truyền giáo tại Kandy và nhiều vùng phụ cận, bất chấp hiểm nguy rình rập. Cha được dòng giảng thuyết Thánh Philiphê Neri trợ lực và được Đức Giám Mục Cochin chỉ định làm giám quản vùng Tích Lan. Cha liên tiếp kinh lược các vùng truyền giáo không biết mỏi mệt, mặc dù sức khỏe ngày càng hao mòn. Trong chuyến đi sau cùng, cha bị ngã xe và mang thương tích trầm trọng. Về đến Kandy, bệnh tình của cha trở nặng thêm. Sau khi nhận lãnh bí tích xức dầu bệnh nhân, cha cầu nguyện cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào giữa đêm khuya ngày 16 tháng giêng năm 1711, thọ 59 tuổi. Vua Kandy đã đích thân gửi lời chia buồn với các cha thuộc hội dòng do cha thành lập trước đây. Tín hữu khắp nơi tuốn về Kandy viếng xác cha suốt ba ngày trước khi cử hành tang lễ.

Cha Joseph Vaz được Đức Gioan Phaolô 2 tôn phong chân phước trước sự hiện diện của 300 ngàn tín hữu. Đêm trước đó đã có 30 ngàn người đến địa điểm hành lễ, họ ca hát, đánh trống, canh thức cầu nguyện và ngủ lại tại chỗ để dự lễ hôm sau. Trong số các tín hữu ấy có 2 ngàn người Tamil từ khu vực do phiến quân kiểm soát ở miền bắc, đã vượt mọi nguy hiểm về thủ đô dự lễ, ngoài ra còn có 800 tín hữu đến từ Ấn độ. Đồng tế thánh lễ hôm ấy 2 có 110 vị gồm 2 HY, 30 GM và gần 80 linh mục.

Sau khi tiểu sử cha Vaz được trình bày, mọi người đã hát kinh cầu các thánh, và ĐTC Phanxicô đọc công thức tuyên bố ghi tên chân phước Joseph Vaz vào sổ bổ các thánh của Giáo Hội và truyền cho toàn thể Giáo hội tôn kính thánh nhân.

Cộng đoàn vỗ tay rất lâu và ca đoàn hân hoan hát mừng vị tân hiển thánh, vị thánh đầu tiên của Giáo Hội tại Sri Lanka, trong khi thầy phó tế rước thánh tích của cha Vaz lên bàn thờ.

Bài giảng thánh lễ

Trong bài giảng thánh lễ, sau khi nhắc đến hoạt động của thánh Joseph Vaz, ĐTC đã rút ra những bài học cụ thể cho các tín hữu ngày nay. Ngài nói:

”Cũng như vô số các thừa sai khác trong lịch sử Giáo Hội, thánh Joseph Vaz đã đáp lại mệnh lệnh của Chúa Phục Sinh truyền hãy làm cho mọi dân nước thành môn đệ của Chúa (Xc Mt 28,19). Bằng lời nói, và quan trọng hơn nữa là bằng gương sống, thánh nhân đã dẫn đưa dân chúng tại đất nước này đến niềm tin, làm cho chúng ta được ”thừa hưởng gia nghiệp giữa các thánh của Chúa” (Xc Cv 20,32).

ĐTC nói: ”Nơi thánh Joseph chúng ta thấy một dấu chỉ mạnh mẽ về lòng nhân từ và tình yêu thương của Thiên Chúa đối với các dân tộc ở Sri Lanka. Nhưng chúng ta cũng thấy nơi thánh nhân một thách đố, đó là làm sao để kiên trì trên con đường Tin Mừng, tăng trưởng trong sự thánh thiện, và làm chứng cho sứ điệp hòa giải của Tin Mừng mà Ngài đã tận hiến trọn cuộc đời.

”Là một linh mục thuộc dòng giảng thuyết ở quê hương Goa, thánh Joseph Vaz đến đất nước này do lòng nhiệt thành truyền giáo và lòng yêu thương lớn lao đối với các dân tộc tại đây thúc đẩy. Vì bấy giờ có cuộc bách hại tôn giáo, thánh nhân hóa trang như người hành khất, chu toàn nghĩa vụ linh mục nơi các cuộc gặp gỡ bí mật với các tín hữu, thường là vào ban đêm. Ngài cố gắng mang lại sức mạnh tinh thần và luân lý cho các tín hữu Công Giáo bị vây bủa. Cha đặc biệt mong ước phục vụ những người bệnh tật và đau khổ. Việc phục vụ của cha dành cho những người đau yếu được nhà vua rất quí chuộng trong thời kỳ dịch đậu mùa ở Kandy đến độ vua cho phép cha được tự do hơn trong việc làm mục vụ. Từ Kandy, cha có thể đi tới các nơi khác trong đảo. Cha hăng say thi hành công tác truyền giáo, và qua đời vì kiệt lực lúc 59 tuổi, được dân chúng kính trọng vì sự thánh thiện.
ĐTC nhận xét rằng ”Thánh Joseph Vaz tiếp tục là một mẫu gương và là thày dạy vì nhiều lý do, nhưng tôi muốn tập trung vào 3 điều.

- Thứ nhất, thánh nhân là một linh mục gương mẫu. Tại đây hôm nay có nhiều linh mục tu sĩ nam nữ, giống như thánh Joseph Vaz, đã được thánh hiến để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Tôi khuyến khích mỗi người trong anh chị em hãy nhìn lên thánh Joseph Vaz như người hướng đạo chắc chắn. Thánh nhân dạy chúng ta cách thức đi tới những vùng ngoại ô, làm cho Chúa Giêsu Kitô được biết đến và yêu mến ở mọi nơi. Ngài cũng nêu gương về sự kiên nhẫn chịu đau khổ vì chính nghĩa Tin Mừng, vâng phục các Bề trên, chăm sóc yêu mến Giáo Hội của Thiên Chúa (Xc Cv 20,28). Cũng như chúng ta, thánh Joseph Vaz đã sống trong một thời đại có những biến chuyện mau lẹ và sâu rộng; các tín hữu Công Giáo chỉ là một thiểu số, và thường bị chia rẽ nội bộ; đôi khi có những đố kỵ, nhiều khi có những bách hại từ bên ngoài. Nhưng vì thánh nhân luôn kết hiệp trong kinh nguyện với Chúa chịu đóng đanh, ngài có thể trở nên hình ảnh sống sống cho mọi người về lòng từ bi và tình yêu thương hòa giải của Thiên Chúa.

- ”Thứ hai, thánh Joseph Vaz tỏ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự vượt thắng những chia rẽ tôn giáo trong việc phụng sự hòa bình. Tình yêu không chia sẻ của thánh nhân đối với Chúa mở cho ngài tình yêu đối với tha nhân; ngài phục vụ những người túng thiếu, bất kỳ là ai và ở nơi nào. Tấm gương của thánh nhân tiếp tục soi sáng cho Giáo Hội tại Sri Lanka ngày nay. Giáo Hội vui mừng và quảng đại phục vụ mọi thành phần trong xã hội. Giáo Hội không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, bộ tộc, giai tầng xã hội hay tôn giáo trong công tác phục vụ ở trường học, nhà thương, bệnh xá, và nhiều công tác từ thiện khác. Điều duy nhất mà Giáo Hội yêu cầu là được tự do thi hành sứ vụ của mình. Tự do tôn giáo là một nhân quyền căn bản. Mỗi người phải được tự do, một mình hoặc hiệp với người khác, tìm kiếm chân lý và công khai bày tỏ những xác tín tôn giáo của mình, không bị dọa nạt hoặc sức ép từ bên ngoài. Như cuộc sống của thánh Joseph Vaz dạy chúng ta, việc phụng tự chân thành đối với Thiên Chúa mang lại hoa trái, không phải trong sự kỳ thị, oán thù hay bạo lực, nhưng trong sự tôn trọng tính chất thánh thiêng của sự sống, tôn trọng phẩm giá và tự do của người khác, dấn thân phục vụ an sinh của tất cả mọi ngừơi trong tinh thần yêu thương.

- Sau cùng, thánh Joseph Vaz nêu gương cho chúng ta cho chúng ta về lòng nhiệt thành truyền giáo. Thánh nhân đến Tích Lan để phục vụ cộng đồng Công Giáo, trong tình bác ái theo tinh thần Phúc Âm, ngài tìm đến với mọi người. Từ bỏ quê hương, gia đình, và môi trường quen thuộc thoải mái, ngài đáp lại tiếng gọi hãy ra đi để nói về Chúa Kitô tại bất kỳ nơi nào ngài được dẫn đến. Thánh Joseph Vaz biết cách trình bày chân lý và vẻ đẹp của Tin Mừng trong một môi trường đa tôn giáo, trong niềm tôn trọng, với lòng tận tụy, kiên trì và khiêm tốn. Đó cũng là con đường của các môn đệ Chúa Giêsu ngày nay. Chúng ta được kêu gọi ra đi với cùng một lòng nhiệt thành, cùng một lòng can đảm như thánh Joseph Vaz, nhưng cũng với sự nhạy cảm của ngài, tôn trọng tha nhân, ước muốn chia sẻ với họ lời ân phúc (Xc Cv 20,32) có năng lực thăng tiến họ. Chúng ta được kêu gọi trở thành những môn đệ thừa sai của Chúa.

Và ĐTC kết luận rằng: ”noi gương thánh Joseph Vaz, tôi cầu nguyện để các tín hữu Kitô tại nước này được củng cố trong đức tin và đóng góp nhiều hơn nữa cho hòa bình, công lý và hòa giải trong xã hội Sri Lanka. Đó là điều mà Chúa Kitô yêu cầu anh chị em. Đó là điều mà thánh Joseph Vaz dạy anh chị em. Đó là điều mà Giáo Hội đang cần nơi anh chị em. Tôi phó thác tất cả anh chị em cho vị thánh mới của chúng ta, để trong niềm hiệp thông với Giáo Hội trên toàn thế giới, anh chị em có thể hát bài ca mới chúc tụng Chúa và cao rao vinh quang Chúa cho đến tận bờ cõi trái đất. Vì Chúa thật là cao cả, và phải được chúc tụng đời đời (Xc Tv 96,1-4). Amen.

Quà tặng

Cuối thánh lễ, ĐHY Malcom Ranjith, TGM Colobom sở tại, đã đại diện mọi người cám ơn ĐTC về món quà quí giá là lễ tôn phong vị thánh đầu tiên của Giáo Hội tại Sri Lanka. ĐHY cũng trao cho ĐTC một ngân phiếu 70 ngàn mỹ kim do các tín hữu đóng góp cho các hoạt động bác ái của ngài. ĐHY nói: ”Chúng con là một Giáo hội nghèo, nhưng chúng con cũng xin ĐTC nhận món quà này cho các công tác bác ái”.

Về phần ĐTC, ngài tặng cho Giáo Hội tại Sri Lanka bản sao bằng đồng sắc chỉ của vua Keerthi Sri Rajasinghe của nước Kandy tuyên bố không cấm những người dân Singalais muốn theo Kitô giáo và cho phép tất cả các mục tử cùng dòng được rao giảng cho những người sinh tại Sri Lanka và phật tử muốn theo Kitô giáo.

Thánh lễ kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ trong bầu không khí nồng nhiệt. Bấy giờ là 11 giờ sáng, giờ địa phương. ĐTC trở về tòa Sứ thần để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi, để chuẩn bị viếng thăm Đền thánh Đức Mẹ Madhu vào ban chiều.

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: VietVatican

Tường thuật ngày đầu tiên Đức Thánh Cha Phanxicô công du mục vụ Sri Lanka (1/3)

11:55 |
** Chiều 12 tháng giêng Đức Thánh Cha Phanxicô đã lên đường công du Sri Lanka trong ba ngày, rồi sau đó viếng thăm Philippines cho tới 19 tháng giêng. Đây là chuyến công du thứ 7 ngoài Itallia. Chiếc Airbus 330 của hãng hàng không Alitalia chở Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng đã cất cánh rời phi trường quốc tế Fiumicino ỏ Roma lúc 18 giờ 50. Máy bay chở ĐTC đã bay qua không phận của các nước Italia, Albania, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, các Vương quốc A rập thống nhất. Oman và Ân Độ. 

ĐTC đã gửi điện tín cho quốc trưởng và nhân dân các quốc gia này. Ngài gửi lời chào thăm và cầu chúc thịnh vượng, hiệp nhất, và thiện ích tinh thần cho dân nước Italia. Ngài còn nhớ các kỷ niệm đẹp trong các chuyến viếng thăm Albania, Thổ Nhĩ Kỳ và bảo đảm với các vị lãnh đạo và quốc dân hai nưóc lời cầu nguyện của ngài. ĐTC nhớ tổng thống và dân nước Hy Lạp trong lời cầu nguyện và khẩn cầu phước lành bình an và tươi vui của Thiên Chúa trên Hy Lạp. Ngài cầu xin phước lành binh an và thịnh vượng của Thiên Chúa cho tổng thống và dân nước Iran, cho quốc vương và các dân tộc của Vương quốc A rập thống nhất, cho quốc vương Oman và thần dân, cũng như cho tổng thống và nhân dân Ấn. 

Trên chuyến bay ĐTC đã ra phía sau chào và bắt tay 76 nhà báo và phóng viên quốc tế tháp tùng chuyến viếng thăm của ngài. Đây là điều hoàn toàn mới mẻ đối với các nhà báo.

Sri Lanka là một quần đảo rộng 65.610 cây số vuông, gồm Ceylon là đảo lớn nhất và vài đảo nhỏ khác như Mannar, Velanai và Neduntivu… Srai Lanka có khoảng 21,2 triệu dân, 75% là người Singale, 15% người Tamil và 9% người Mori. 

Colombo đã là thủ đô của Sri Lanka cho tới năm 1978, khi chính quyền di chuyền các bộ về Sri Jayawardenapura Kotte, cách đó 8 cây số. Tên Colombo do người Bồ Đào Nha du nhập năm 1505, có lẽ phát xuất từ tiếng Singale cổ điển “Kolon thota” có nghĩa là “cảng trên sông Kelani”. Cũng có người cho rằng nó bắt nguồn từ kiểu nói Singale “kola-amba-thota” có nghĩa là “cảng với các cây xoài rậm lá”. Colombo đã được các thương gia Roma, Tầu, và A rập biết tới từ hơn 2.000 năm trước. Vào thế kỷ thứ VIII nó bị người A rập chiếm đóng để kiểm soát giao thông giữa các vương quốc Singale và phần còn lại của thế giới. Vào thế kỷ XVI người Bồ Đào Nha đánh đuổi người A rập và xây một pháo đài để bảo vệ việc buôn bán gia vị. Năm 1656 người Hoà Lan đánh chiếm thành phố và biến Colombo trở thành thủ đô các tỉnh duyên hải của Công ty Hoà Lan Đông Ấn Độ cho tới năm 1796. Tiếp theo đó người Anh chiếm Colombo và biến nó trở thành thủ đô của đảo Ceylon thuộc địa của họ. Năm 1948 Sri Lanka được độc lập. Vì địa thế hải cảng của mình Colombo là nơi xuất cảng nhiều sản phẩm quốc gia như trà, cao su, dầu dừa, copra và nhất là đá qúy. Thành phố cũng có các kỹ nghệ chế biến thuốc lá, dầu, các nhà máy tơ sợi và da thuộc.

** Giáo phận Colombo có từ năm 1834 và năm 1886 trở thành Tổng giáo phận. Tổng giáo phận hiện có gần 7,3 triệu dân, trong đó có hơn 667 ngàn theo công giáo, tức chiếm 9,23%, với 127 giáo xứ, 298 linh mục giáo phận, 279 linh mục dòng, 380 tu huynh, 1.400 nữ tu và 284 đại chủng sinh. Tổng giáo phận có 196 cơ sở giáo dục và 560 cơ sở bác ái.

Sau 9 giờ 40 phút bay và vượt chặng đường dài 7.630 cây số máy bay đã đáp xuống phi trường quốc tế Colombo của Sri Lanka lúc 10 giờ sáng giờ địa phương, trễ một giờ so với chương trình dự định. 

Tiếp đón ĐTC tại phi trường có ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Tốt, Sứ Thần Tòa Thánh tại Sri Lanka, ông Aryasinha Ravinatha Đại sứ ngoại thường toàn quyền của Cộng hòa dân chủ xã hội Sri Lanka cạnh Toà Thánh, ĐHY Malcolm Ranjith Patabendige Don, TGM Colombo, kiêm Chủ tịch HĐGM Sri Lanka, các Giám Mục, Tổng thống tân cử Maithripala Sirisena, một số các vị lãnh đạo, một số tín hữu, một ca đoàn và 2.000 trẻ em. Tổng thống đã đón ĐTC tại chân thang máy bay. Hai em bé một trai một gái tiến đến quàng vòng hoa mầu trắng và mầu vàng cho ĐTC. 

Ban quân nhạc đã cử quốc thiều Vaticăng và quốc thiều Sri Lanka. ĐTC và tổng thống đã duyệt qua hàng chào danh dự trong khi đại bác bắn 21 phát chào mừng vị quốc khách.

Trong diễn văn chào mừng ĐTC tân tổng thống Maithripala Sirisena bầy tỏ niềm hân hoan vui sướng của dân nước Sri Lanka được ĐTC viếng thăm. Niềm hạnh phúc và hãnh diện này đặc biệt lớn đối với ông là người mới được bầu làm tổng thống cách đây mấy ngày và bắt đầu nhiệm vụ với chuyến viếng thăm này của ĐTC. Ông xin ngài chúc lành cho dân nước Sri Lanka.

Đáp từ tổng thống ĐTC bầy tỏ vui mừng được viếng thăm Sri Lanka, được gọi là ngọc trai của Ấn Độ dương vì vẻ đẹp thiên nhiên, sự nồng hậu của người dân và sự khác biệt phong phú của các truyền thống văn hóa và tôn giáo của nó.

ĐTC cầu chúc Tổng thống những điều tốt đẹp nhất cho các trách nhiệm mới, và ngài đặc biệt cám ơn sự hiện diện của các vị lãnh đạo dân sự và tôn giáo cũng như ca đoàn và tất cả những ai khiến cho cuộc viếng thăm này có thể xảy ra. Nhấn mạnh đến mục đích chuyến viếng thăm ĐTC nói:

** Chuyến viếng thăm Sri Lanka của tôi trước hết có tính cách mục vụ. Như là Chủ chăn hoàn vũ của Giáo Hội Công Giáo tôi phải gặp gỡ, củng cố và cầu nguyện với dân công giáo của quốc đảo này. Tột đỉnh của chuyến viếng thăm là việc phong hiển thánh cho chân phước Joseph Vaz, mà gương bác ái kitô và sự kính trọng đối với mọi người không phân biệt chủng tộc và tôn giáo, tiếp tục gợi hứng và dậy dỗ chúng ta ngày nay. Nhưng chuyến viếng thăm của tôi cũng muốn diễn tả tình yêu thương và sư lo lắng của Giáo Hội đối với mọi người dân Sri Lanka, và khẳng định ước mong của Giáo Hội tích cực tham gia vào đời sống của xã hội này.

Tiếp tục bài diễn văn ĐTC nhắc tới thảm cảnh nội chiến của Sri Lanka. Ngài nói thật là một thảm cảnh trong thế giới ngày nay, khi có nhiều cộng đoàn gây chiến với nhau như vậy. Việc không có khả năng hòa giải các khác biệt và bất đồng ý, cũ và mới, đã dấy lên các căng thẳng chủng tộc và tôn giáo, thường đi đôi với bạo lực bùng nổ. Trong nhiều năm trời Sri Lanka đã biết đến các kinh hoàng của cuộc nội chiến, giờ đây đang tìm củng cố hòa bình và chữa lành các vết thương của các năm đó. Thật không dễ thắng vượt được gia tài cay đắng của các bất công, thù nghịch và mất tin tưởng do xung khắc để lại. Chỉ có thể làm được bằng cách thắng sự dữ với sự thiện (x. Rm 12,21) và bằng cách vun trồng các nhân đức khuyến khích hòa giải, liên đới và hòa bình. Tiến trình chữa lành cũng cần bao gồm việc theo đuổi sự thật, không phải để mở ra các vết thương cũ, nhưng như là các phương tiện cần thiết nhằm thăng tiến công lý, việc chữa lành và sư hiệp nhất.

Các bạn thân mến, tôi xác tín rằng tín hữu của các truyền thống tôn giáo khác nhau có một vai trò nòng cốt trong tiến trình hòa giải và tái thiết hiên nay của đất nước. Và ĐTC nhấn mạnh như sau:

Để cho tiến trình đó được thành công mọi thành phần xã hội phải làm việc chung với nhau; mỗi người phải có tiếng nói. Tất cả phải được tự do diễn tả những gì liên quan tới các nhu cầu, các khát vọng và sợ hãi của mình. Điều quan trọng nhất là họ phải được chuẩn bị để chấp nhận nhau, tôn trọng các khác biệt hợp pháp, và học sống như một gia đình. Khi người dân biết lắng nghe nhau một cách khiêm tốn và cởi mở, thì việc chia sẻ các giá trị và các khát vọng trở thành rõ ràng hơn. Khác biệt không còn là sự đe dọa nữa, nhưng là suối nguồn của sự giầu có. Con đường dẫn tới công bằng, hòa giải và hòa hợp xã hội trở thành rõ ràng hơn. Trong nghĩa đó, công việc to lớn của sự hòa giải cũng đụng chạm tới các cơ cấu hạ tầng xã hội, và đáp ứng các nhu cầu vật chất và quan trọng hơn nữa là thăng tiến nhân phẩm, tôn trọng các quyền con người và việc tháp nhập tràn đầy mỗi thành phần xã hội. Tôi hy vọng các vị lãnh đạo chính trị tôn giáo và văn hóa Sri Lanka đo lường mọi lời nói và hành động bởi thiện ích và việc chữa lành mà chúng mang lại, góp phần lâu dài cho sự tiến bộ vật chất và tinh thần của nhân dân Sri Lanka. 

Kính thưa tổng thống và các bạn, một lần nữa tôi xin cám ơn sự tiếp đón của qúy vị. Xin cho những ngày chúng ta sống với nhau là những ngày của tình bằng hữu, đối thoại và liên đới. Tôi khẩn cầu phép lành tràn đầy của Thiên Chúa trên Sri Lanka, viên ngọc trai của Ấn Độ dương, và tôi cầu xin cho vẻ đẹp của nó chiếu sang trong sự thịnh vượng và hòa bình cho dân tộc nó.

** Sau lễ nghi chào đón, ĐTC đã đi xe díp bọc kính về Tòa Sứ Thần nằm cách đó 28 cây số. Dọc hai bên đường có ít nhất 300.000 người đứng chào đón ĐTC trong bầu khí lễ hội, trong đó cũng có rất nhiều nhà sư Phật giáo và một đoàn 40 con voi trang hoàng rực rỡ như trong ngày lễ hội quốc gia. 

Vể tới Tòa Sứ Thần ĐTC đã nghỉ ngơi chốc lát trước khi cử hành thánh lễ riêng. Vì chương trình bị trễ nhiều và trời Sri Lanka nóng tới 31 độ ĐTC đã không đến Tòa Tổng Giám Mục cách đó 4 cây số để gặp gỡ các Giám Mục Sri Lanka. Nhưng ĐHY Pietro Parolin Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã thay mặt ngài đến chào các Giám Mục cùng với các Hồng Y và Tổng Giám Mục thuộc đoàn tùy tùng. Các vị đã được một nhóm 180 đại chủng sinh và một nhóm vũ công tiếp đón và tặng vòng hoa trong vườn tòa Tổng Giám Mục. 

** Vào ban chiều lúc 17 giờ ĐTC đã đến thăm xã giao tổng thống Sri Lanka. Tổng thống Maithripala Sirisena vừa thắng cử hôm mùng 8 tháng giêng vừa qua với 51,2% tổng số phiếu, trong khi tổng thống Rajapaksa chỉ đuợc 47,5%. Ông đã chấp nhận ý dân và dọn ra khỏi dinh tổng thống. Tổng thống tân cử đã làm lễ tuyên thệ ngay.

Ông Sirisena sinh năm 1951, bắt đầu tham gia chính trị năm 1989, trở thành dân biểu của đảng Sri Lanka tự do, và từ năm 1994 giữ nhiều chức vụ bộ trưởng. Cho tới tháng 11 năm 2014 vừa qua ông đã là Bộ trưởng Y tế Sri Lanka.

Tổng thống tân cử Sirisena đã đón ĐTC tại cửa chính. Sau khi ngài ký tên vào sổ vàng hai vị lên lầu một để hội kiến riêng. ĐTC viết:
“Tôi khẩn nài ơn can đảm, khôn ngoan và phân định trên những ai phục vụ nhân dân Sri Lanka yêu quý”.

ĐTC đã tặng tổng thống một bản sao Bản đồ hàng hải do ông Bartolomé Oliva vẽ năm 1562, gọi là bản Urbinate latino 283 của Thư Viện Vaticăng. Thủ bản này có các trang kích thước 33 trên 23 mm gồm 14 bản đồ hàng hải mầu vẽ trên các mảnh da thuộc có phẩm chất rất tốt. Tác giả là ông Bartolomé Oliva thuộc một gia đình chuyên nghề vẽ các bản đồ, hoạt động giữa các năm 1538-1588, nhất là trong tỉnh Messina. Bản đồ này được vẽ năm 1562 và cho thấy thế giới như được người Âu châu biết tới hồi thế kỷ XVI. Bộ sưu tập này đuợc Thư Viện Vaticăng mua năm 1657 với các thủ bản khác của thư viện Urbinate.

Lúc 18 giờ ĐTC từ biệt tổng thống để đến Trung Tâm Hội nghị quốc tế BMICH gặp gỡ giới lãnh đạo các tôn giáo toàn nước Sri Lanka. Trung tâm BMICH đã được xây cất giữa các năm 1970-1973 như qùa Trung Quốc tặng dân nước Sri Lanka. Ngoài đại thính đường, khu vực triển lãm, còn có một ngân hàng, một khách sạn, một thư viện và một học viện nghiên cứu. Năm 2013 hội nghị các nước trong Khối Thịnh Vượng Chung đã nhóm họp tại đây. Và năm 2014 tới phiên Đại hội giới trẻ quốc tế.

Tại Sri Lanka Phật giáo chiếm 70% dân số, Ấn giáo chiếm 12,6%, Hồi giáo chiếm 9,7% và Công giáo chiếm 7,16%.

Cho tới thế kỷ thứ III trước công nguyên, đa số dân theo Ấn giáo. Các tín hữu Ấn giáo hiện sống tại miền bắc và miền đông Sri Lanka đa số là người Tamil. Phật giáo nguyên thủy Theravada đã được truyền bá năm 246 trước công nguyên và vào năm 200 được tuyên bố là quốc giáo. Từ giữa thế kỷ XIX Phật giáo tái sinh nhờ các phong trào ái quốc. Hồi giáo được phổ biến cho tới thế kỷ XV nhờ các thương gia A rập kiểm soát các lộ giao thương trong vùng biển nam Ấn, cho tới khi các thừa sai Phanxicô và Bồ Đào Nha tới truyền bá Tin Mừng. Truyền thống kể rằng thánh Toma Tông Đồ đã tới Sri Lanka vào thế kỷ thứ I, sau khi đi ngang qua vùng Kerala và nam Ấn. Các tài liệu kitô đầu tiên có từ năm 1322, khi tu sĩ Phanxicô Odorico da Pordenone ghé Sri Lanka vào năm đó, rồi từ năm 1517 khi các tu sĩ Phanxicô tới truyền giáo tại đây.

** Trong đại thính đường của Trung tâm có các vị lãnh đạo của các tôn giáo và một ngàn tín hữu đại diện các công đoàn Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo và Kitô giáo tham dự. ĐTC đã được tiếp đón với các bản nhạc truyền thống do dàn hoà nhạc Hevisi trình tấu. Ngài đã ký tên vào sổ vàng. ĐTC viết “Với lòng biết ơn đối với cơ may gặp gỡ các vị đại diện các tôn giáo khác nhau hiện diện trên vùng đất này, tôi cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng linh hứng cho sự cộng tác hài hòa cho thiện ích của nhân dân Sri Lanka.”

Tiếp đến Đức Cha Cletus Perera, đặc trách Ủy ban liên tôn của HĐGM Sri Lanka giới thiệu các vị lãnh đạo và phái đoàn của các tôn giáo. Tiếp theo là bài thánh ca Pirith của Phật giáo, rồi lời chúc lành Ấn giáo, Hồi giáo, lời cầu đại kết, và diễn văn chào mừng của Hòa Thượng Vigithasiri Niyangoda Thero, thủ lãnh Phật Giáo Sri Lanka.

Ngỏ lời với mọi người ĐTC nói:

Các bạn thân mến, Tôi biết ơn vì dịp may được tham dự cuộc họp này quy tụ giữa các tôn giáo, bốn cộng đoàn tôn giáo lớn tạo thành cuộc sống của Sri Lanka là: Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo và Kitô giáo. Tôi xin cám ơn sự hiện diện và tiếp đón nồng hậu của qúy vị. Tôi cũng xin cám ơn tất cả những ai đã dâng lời cầu nguyện và chúc lành, và một cách đặc biệt tôi bầy tỏ lòng biết ơn ĐC Cletus Chandrasiri Perera và Hòa thượng Vigithasiri Niyangoda Thero vì những lời chào nhãn nhặn của các vị.

Tiếp đến ĐTC nói ngài đến thăm Sri Lanka theo gót các vị tiền nhiệm Phaolô VI và Gioan Phaolô II để chứng minh cho tình yêu thương lớn lao và sự lo lắng của Giáo Hội công giáo đối với dân nước Sri Lanka. Và thật là một ơn có thể thăm viếng cộng đoàn công giáo địa phương, cũng cố nó trong niềm tin nơi Chúa Kitô, cầu nguyện và chia sẻ các niềm vui và các khổ đau của nó. Đồng thời cũng là một ơn được gặp gỡ tất cả anh chị em là những người của các truyền thống tôn giáo lớn cũng chia sẻ với chúng tôi một ước muốn của sự khôn ngoan, của chân lý và sự thánh thiện. ĐTC đã trích tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II khẳng định rằng Giáo Hội công giáo tôn trọng sâu xa tất cả mọi tôn giáo, vì không phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó ( Nostra Aetate 2). Và ngài tái khẳng định sự tôn trọng chân thành của Giáo Hội công giáo đối với các truyền thống và niềm tin của các tôn giáo khác. ĐTC nói: chính trong tinh thần tôn trọng đó Giáo Hội công giáo muốn cộng tác với qúy vị và với tất cả những người thiện chí trong việc tìm kiếm sự thịnh vượng cho mọi người dân Sri Lanka. Tôi hy vọng chuyến viếng thăm của tôi sẽ giúp khích lệ và đào sâu các hình thức cộng tác liên tôn và đại kết, đã được làm trong các năm mới đây. Các sáng kiến này đã cống hiến cơ may đối thoại nòng cốt, nếu chúng ta muốn hiểu biết, thông cảm nhau và tôn trọng nhau. Nhưng kinh nghiệm dậy cho thấy rằng để cho cuộc đối thoại được hữu hiệu nó cần phải được xây dựng trên việc trình bầy trọn vẹn và ngay thẳng các xác tín của chúng ta. Chắc chắn cuộc đối thoại như thế sẽ làm nổi bật lên các khác biệt trong các niềm tin, truyền thống và thực hành của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta liêm chính trong việc trình bầy các xác tín của mình, chúng ta sẽ có thể trông thấy rõ ràng hơn những gì chúng ta có chung vói nhau. Các con đường mới sẽ mở ra cho sự qúy trọng, cộng tác với nhau và cả tình bằng hữu nữa.

** ĐTC nói tiếp trong bài diễn văn: Các phát triển tích cực trong quan hệ liên tôn và đại kết có một ý nghĩa đặc biệt và cấp bách tại Sri Lanka. Vì trong qúa nhiều năm người dân nước này đã là nạn nhân của nội chiến và bạo lực. Điều cần thiết hiện nay là việc chữa lành và sự hiệp nhất chứ không phải là các xung đột hay các chia rẽ mới. Chắc chắn việc thăng tiến chữa lành và hiệp nhất là một dấn thân cao quý, bổn phận của tất cả những ai quan tâm đến thiện ích của Quốc gia và toàn gia đình nhân loại. Tôi hy vọng rằng sư cộng tác liên tôn và đại kết sẽ chứng minh rằng để sống trong hòa hợp với các anh chị em mình người ta không được quên căn tính chủng tộc hay tôn giáo của mình.

Có biết bao nhiêu kiểu để tín đồ các tôn giáo khác nhau thực hiện việc phục vụ này! Có biết bao nhiêu nhu cầu cần đáp ứng với dầu thoa dịu của tình liên đới! Tôi đặc biệt nghĩ tới các nhu cầu vật chất và tinh thần của người nghèo, người bần cùng, của những ai âu lo chờ đợi một lời an ủi và trao ban hy vọng. Ở đây tôi nghĩ tới nhiều gia đình tiếp tục khóc than các người thân đã chết.

Nhất là trong lúc này của lịch sử quốc gia anh chị em, có biết bao nhiêu người thiện chí kiếm tìm tái thiết các nền tảng luân lý của toàn xã hội! Ước chi tinh thần cộng tác gia tăng giữa các vị lãnh đạo của các cộng đoàn tôn giáo khác nhau tìm ra sự diễn tả trong một dấn thân đặt để sự hòa giải giữa mọi ngươi dân Sri Lanka vào trong mọi cố gắng canh tân xã hội và các cơ cấu của nó. Vì thiện ích của hòa bình không thể cho phép các niềm tin tôn giáo bị lạm dụng cho lý do của bạo lực hay chiến tranh. Chúng ta phải rõ rang và không mập mờ trong việc mời gọi các cộng đoàn của chúng ta sống trọn vẹn các điều luật của hòa bình và tố cáo các hành động bạo lực khi chúng bị vi phạm.

Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn sự tiếp đón nồng hậu và sự chú ý của các bạn. Ước chi cuộc gặp gỡ huynh đệ này củng cố chúng ta tất cả trong nỗ lực sống trong hòa hợp và phổ biến các phúc lành của hòa bình.

** ĐHY Ranjith đã cùng ĐC Perera dẫn ĐTC tới chào và bắt tay hai vị đại lão Hòa Thượng.
Sau khi chào tạm biệt mọi người lúc sau 19 giờ ĐTC đã lên xe trở về Tòa Sứ Thần cách đó 2 cây số để dùng bữa tối kết thúc ngày thứ nhất viếng thăm Sri Lanka.

Báo chí Sri Lanka dã hết lời ca ngợi ĐTC Phanxicô như là “vị lãnh đạo và là người hầu hạ” cúi xuống rửa chân cho người nghèo. Ngoài các bài tường thuật, thông tin tức và giải thích cho người dân Sri Lanka biết ĐTC là ai, nhiệm vụ của ngài là gì, ảnh hưởng của ngài ra sao, các báo còn in rất nhiều bích chương với hình của ĐTC và các lời chú thích.

Linh Tiến Khải
Nguồn: VietVatican

Diễn từ của Đức Thánh Cha tại phi trường Bandaranaike của thủ đô Colombo

06:19 |
Máy bay chở Đức Phanxicô và đoàn tùy tùng đã đáp xuống phi trường quốc tế Bandaranaike, vào sáng sớm ngày 13 tháng Giêng năm 2015. Đức Giáo Hoàng đã được Tân Tổng Thống Sri Lanka Maithripala Sirisena tiếp đón. Sau đó, ngài được hướng dẫn tới khán đài danh dự và nhận 21 phát súng chào mừng.
Ngày 13 tháng Giêng Năm 2015
Thưa Tổng thống,
Các vị hữu trách trong chính phủ,
Thưa Đức Hồng Y và chư huynh Giám Mục
Anh chị em thân mến,
Tôi cảm ơn sự chào đón nồng nhiệt của các bạn. Tôi đã trông đợi chuyến viếng thăm Sri Lanka này và những ngày chúng ta sẽ dành cho nhau. Sri Lanka được gọi là Hòn ngọc của Ấn Độ Dương với vẻ đẹp tự nhiên của nó. Quan trọng hơn nữa, hòn đảo này được biết đến với tình cảm nồng nàn của người dân và sự đa dạng phong phú của các truyền thống văn hóa và tôn giáo.
Thưa tổng thống, 
Tôi xin gửi đến tổng thống lời chúc tốt đẹp cho trách nhiệm mới của ngài. Tôi chào mừng các thành viên đáng kính của chính phủ và các nhà chức trách dân sự vì sự hiện diện của quý vị và anh chị em nơi đây. Đặc biệt tôi rất vui mừng với sự hiện diện của các nhà lãnh đạo tôn giáo khả kính là những người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống đất nước này. Và tất nhiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các tín hữu, các thành viên của dàn hợp xướng, và nhiều người đã giúp tôi thực hiện được chuyến thăm này. Từ con tim, tôi cảm ơn tất cả các bạn về lòng nhân ái và lòng hiếu khách của các bạn.
Chuyến thăm của tôi đến Sri Lanka chủ yếu là về mục vụ. Trong tư cách mục tử toàn thể Giáo Hội Công Giáo, tôi đã gặp gỡ, khích lệ và cầu nguyện với anh chị em giáo dân của hòn đảo này. Nét nổi bật của chuyến thăm này sẽ là việc phong thánh cho Chân Phước Joseph Vaz, một mẫu gương của lòng bác ái Kitô giáo và sự tôn trọng mọi người, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, là vị đang điều tiếp tục truyền cảm hứng và dạy dỗ chúng ta hôm nay. Nhưng chuyến đi của tôi cũng còn có một ý nghĩa là để thể hiện tình yêu và sự quan tâm của Giáo Hội đối với tất cả người dân Sri Lanka, và khẳng định mong muốn của cộng đồng Công Giáo muốn được là một thành viên tích cực trong đời sống của xã hội này.
Một bi kịch vẫn đang tiếp diễn trong thế giới của chúng ta đó là rất nhiều cộng đồng đang có chiến tranh với nhau. Việc không có khả năng hoà giải những khác biệt và bất đồng, dù cũ hay mới, đã làm gia tăng các căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, thường xuyên đi kèm với những đợt bùng phát bạo lực. Sri Lanka trong nhiều năm đã kinh qua nỗi kinh hoàng của cuộc nội chiến, và bây giờ đang tìm cách củng cố hòa bình và chữa lành những vết sẹo của những tháng năm đó. Vượt qua những di sản cay đắng của bất công, thù địch và nghi ngờ mà cuộc xung đột để lại là một nhiệm vụ không dễ dàng gì. Nó chỉ có thể được thực hiện bằng cách vượt qua sự ác với điều thiện (Rm 12:21) và bằng cách đề cao những đức tính nào nuôi dưỡng hòa giải, đoàn kết và hòa bình. Quá trình chữa lành cần bao gồm việc theo đuổi chân lý, không phải vì muốn mở lại các vết thương cũ, nhưng đúng hơn đó là một phương thế cần thiết để đề cao công lý, chữa lành và đoàn kết.
Các bạn thân mến, 
Tôi tin chắc rằng các tín hữu của các truyền thống tôn giáo khác nhau có vai trò thiết yếu trong tiến trình hòa giải tế nhị và tái xây dựng đang diễn ra ở đất nước này. Để tiến trình đó được thành công, tất cả các thành viên của xã hội phải cùng nhau làm việc; tất cả đều phải có tiếng nói. Tất cả phải được tự do bày tỏ những quan ngại của họ, những nhu cầu, nguyện vọng và những sợ hãi của họ. Quan trọng nhất, họ phải được chuẩn bị để chấp nhận nhau, tôn trọng sự đa dạng hợp pháp, và học cách sống như một gia đình. Bất cứ khi nào người ta lắng nghe nhau một cách cởi mở và khiêm tốn, những giá trị và khát vọng chung của họ tất cả sẽ trở thành rõ ràng. Sự đa dạng không còn được coi là một mối đe dọa, nhưng như một nguồn mạch của sự phong phú. Con đường dẫn đến công lý, hòa giải và hòa hợp xã hội trở thành rõ ràng cho tất cả mọi người.
Theo nghĩa này, các đề án lớn của việc tái thiết phải bao gồm việc cải thiện cơ cấu hạ tầng và đáp ứng nhu cầu vật chất, nhưng bên cạnh đó, và thậm chí còn quan trọng hơn, là đề cao nhân phẩm con người, tôn trọng nhân quyền, và hội nhập đầy đủ mọi thành viên trong xã hội. Hy vọng của tôi là các nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo và văn hóa ở Sri Lanka, cân nhắc mỗi từ ngữ và hành động của họ xem nó có thể mang lại những điều tốt lành và chữa lành nào, sẽ đóng góp lâu dài cho đời sống vật chất và tâm linh của người dân Sri Lanka ra sao” 
Thưa Tổng thống, các bạn thân mến, 
Tôi cảm ơn các bạn một lần nữa đã chào đón tôi. Những ngày tháng chúng ta dành cho nhau là những ngày của tình hữu nghị, đối thoại và tình đoàn kết. Tôi cầu khẩn Chúa ban phúc lành dư dật cho Sri Lanka, Hòn ngọc Ấn Độ Dương, và tôi cầu nguyện để vẻ đẹp đó có thể tỏa sáng trong sự thịnh vượng và hòa bình của tất cả người dân.
J.B. Đặng Minh An dịch
Conggiao.info

Năng cầu khẩn Chúa Thánh Thần, và dưỡng nuôi con cái bằng Lời Chúa và gương sống đức tin

11:27 |
Hãy thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, để Người trợ giúp chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh. linh hứng chúng ta và làm cho chúng ta tiến tới. Các cha mẹ hãy dưỡng nuôi con cái mình bằng Lời Chúa và gương sống đức tin.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khích lệ như trên trong thánh lễ ban bí tích Tửa Tội cho 33 trẻ em nam nữ trong nhà nguyện Sistina và trong bài huấn dụ khi đọc Kinh Truyền Tin với tín hữu và du khách hanh hương tại công trường Thánh Phêrô.

Lúc 9 giờ sáng Chúa Nhật hôm qua lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ ban Bí Tích Rửa Tội cho 33 trẻ em nam nữ, con của các nhân viên làm việc trong Tòa Thánh. 

Sau lời chào mở đầu, ĐTC đã đối thoại với các cha mẹ. Ngài nói: Mở đầu buổi cử hành này, tôi xin hỏi các cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu: Anh chị em đặt tên cho con là gì? Anh chị em xin gì cho con cái anh chị em với Giáo Hội Chúa? Anh chị em thân mến khi xin Bí tích Rửa Tội cho con cái anh chị em, anh chị em dấn thân giáo dục chúng trong đức tin, để trong việc tuân giữ các giới răn chúng học yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như Chúa Kitô đã dậy chúng ta. Anh chị em có ý thức được trách nhiệm này của anh chị em không? Các cha me thưa có. Và anh chị em là các cha mẹ đỡ đầu, anh chị em có sẵn sàng trợ giúp cha mẹ các em trong nhiệm vụ quan trọng như thế không? Các cha mẹ đỡ đầu thưa có.

Tiếp đến ĐTC nói: Các trẻ em thân mến, với niềm vui lớn Giáo Hội Chúa đón nhận các con. Nhân danh Người cha làm dấu thánh giá cho các con. Và sau tôi anh chị em là cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu cũng làm dấu của Chúa Kitô Cứu Thế trên con của anh chị em. 

Các cha mẹ và người đỡ đầu đã bế các em lên để ĐTC vẽ dấu thánh giá trên trán các em và họ cũng vẽ dấu thánh già trên trán chúng. 

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói Lời Chúa cho chúng ta thấy như một người cha và một bà mẹ giỏi Thiên Chúa muốn các sự tốt lành cho con cái Ngài. Và điều Thiên Chúa muốn trao ban là Lời ngài, làm cho chúng ta lớn lên và sinh hoa trái tốt lành trong cuộc sống, như mưa và tuyết rơi xuống khiến cho đất đai được phong phú (x. Is 55,10-11). Cũng thế anh chị em là cha me, cha mẹ đỡ đầu, là ông bà, cô chú hãy giúp các trẻ em này lớn lên, nếu anh chị em cho chúng Lời Chúa, Tin Mừng của Chúa Giêsu, và làm gương cho chúng bằng cách có thói quen đọc Lời Chúa mỗi ngày và mang Lời Chúa theo trong mình, trong túi trong xách tay, để đọc. Khi trông thấy anh chị em đọc Lời Chúa, các em sẽ noi theo. Các bà mẹ hãy cho con cái sữa, nếu chúng khóc vì đói, hãy bình tĩnh cho chúng bú ngay bây giờ đây. Cứ bình tĩnh (Lúc này có nhiều em khóc lớn trong nhà nguyện). Chúng ta cảm tạ Chúa vì ơn của sữa, và cầu nguyện cho các bà mẹ, biết bao nhiêu bà mẹ không có điều kiện cho con cái họ ăn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ và trợ giúp họ. Điều mà sữa làm cho thân xác, thì Lời Chúa làm cho tinh thần: Lời Chúa lam cho đức tin lớn lên. Và nhờ đức tin chúng ta được Thiên Chúa sinh ra. Đó là điều xảy ra trong bí tích Rửa Tội. Chúng ta đã nghe lời thánh Gioan nói: “Ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì đã được Thiên Chúa sinh ra” (1 Ga 5,1). Hôm nay là đức in của anh chị em, là đức tin của Giáo Hội qua đó các em bé này nhận bí tích Rửa Tội, nhưng ngày mai, với ơn thánh Chúa sẽ là đức tin của các em, sẽ là tiếng “có” cá nhân thưa với Chúa Giêsu Kitô, Đấng trao ban cho chúng ta tình yêu của Chúa Cha. Bí tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào dân thánh Chúa là Giáo Hội, trong đó đức tin được thông truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là đức tin của Mẹ Maria, của các Tông Đồ, của các Thánh Tử Đạo. Ánh sáng đức tin được chuyền tay nhau, mà trong chốc lát nữa chúng ta sẽ đốt lên từ nến phục sinh biểu tượng cho Chúa Kitô sống lại. Anh chị em là các gia đình hãy lấy ánh sáng đức tin từ Ngài để truyền lại cho con cái. Hãy dậy cho con cái anh chị em biết rằng không thể là kitô hữu ngoài Giáo Hội, không thể theo Chúa Kitô mà không có Giáo Hội, bởi vì Giáo Hội là mẹ và làm cho chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Chúa Giêsu. 

Trong bí tích Rửa Tội chúng ta đưọc thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần. Từ “kitô” có nghĩa là được thánh hiến như Chúa Giêsu trong cùng Thánh Thần trong đó Chúa Giêsu được dìm mình trong suốt cuộc đời dương thế của Người. Người là Đấng được xức dầu, được thánh hiến. Các người được rửa tội là các kitô hữu nghĩa là những người được thánh hiến, được xức dầu. Các cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu thân mến, nếu anh chị em muốn cho con cái anh chị em trở thành các kitô hữu, thì hãy giúp chúng lớn lên “chìm ngập” trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là trong hơi ấm tình yêu của Thiên Chúa, trong ánh sáng Lời Ngài. Vì thế đừng quên cầu khẩn Chúa Thánh Thần thường xuyên. Chúng ta cầu xin Thiên Chúa Cha trong Kinh Lậy Cha, nhưng ít khi cầu xin Chúa Thánh Thần. Nhưng cầu khẩn Chúa Thánh Thần rất quan trọng, để Người dậy chúng ta đưa gia đình, con cái tiến tới, để cho con cái lớn lên trong bầu khí của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Chẳng hạn hãy cầu khẩn với lời cầu đơn sơ này: “Lậy Chúa Thánh Thần, xin hãy đổ đầy trái tim của tín hữu Chúa và đốt lên trong chúng ngọn lửa tình yêu của Chúa”. Khi cầu nguyện như vậy, anh chị em cảm thấy sự hiện diện hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ dậy chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần và sống theo Thần Khí như Chúa Giêsu. Xin Mẹ đồng hành với con cái và gia đình anh chị em.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương. Trong bài huấn dụ ngài đã đào sâu ý nghĩa lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa và nhấn mạnh rằng với biến cố này “thời gian của trời đóng kín đã kết thúc”, chúng ta đang sống trong thời gian của lòng thương xót. ĐTC nói:
Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa chịu phép rửa kết thúc mùa Giáng Sinh. Phúc Âm miêu tả điều xảy ra trên bờ sông Giorđan. Trong khi Gioan Tây Giả ban phép rửa cho Chúa Giêsu, thì trời mở ra. Thánh sử Marcô nói: “Lập tức, khi ra khỏi nước Người thấy trời mở ra” (Mc 1,10). Trở lại trong trí chúng ta lời khẩn nài thê thảm của ngôn sứ Isaia: “Ôi phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống” (Is 63,19). Lời khẩn cầu này đã được nhận lời với biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa. ĐTC giải thích như sau:

Như thế đã chấm dứt “thời gian “trời đóng” ám chỉ sự xa cách giữa Thiên Chúa và con người, hậu qủa của tội lỗi. Tội lỗi làm cho chúng ta xa cách Thiên Chúa và bẻ gẫy mối liên hệ giữa đất và trời, và như thế xác định sự bần cùng và thất bại của cuộc sống chúng ta. Trời mở ra ám chỉ rằng Thiên Chúa đã ban ơn thánh Người để trái đất cho hoa trái của nó “(x. Tv 85,13). Như thế trái đất trở thành nơi ở của Thiên Chúa giữa loài người, và từng người trong chúng ta có khả thể gặp gỡ Con Thiên Chúa, khi kinh nghiệm tất cả tình yêu và lòng thương xót vô biên của Người.

Chúng ta có thể gặp gỡ Chúa hiện diện thực sự trong các Bí Tích, một cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta có thể gặp gỡ Người nơi gương mặt của các anh chị em chúng ta, cách riêng nơi người nghèo, người bệnh, người bị tù, người tỵ nạn: họ là thịt xác sống động của Chúa Kitô khổ đau và là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: Với biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa trời không chỉ xé ra, mà Thiên Chúa lại nói và làm vang lên tiếng nói của Người: “Con là Con yếu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). Tiếng của Thiên Chúa Cha loan báo mầu nhiệm dấu ẩn nơi Con Người được vị Tiên Hô làm phép rửa. Đức Giêsu Con Thiên Chúa nhập thể, cũng là Ngôi Lời vĩnh viễn, mà Thiên Chúa Cha đã muốn nói với thế giới. Chỉ khi lắng nghe, đi theo và làm chứng cho Lời đó, chúng ta mới có thể làm cho kinh nghiệm đức tin của chúng ta phong phú tràn đầy, mà mầm giống đã được đặt để trong chúng ta trong ngày lãnh bí tích Rửa Tội. Và rồi biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình chim bồ câu: điều này cho phép Đức Kitô, Đấng Được Xức Dầu của Chúa, khai mào sứ mệnh của Người là cứu rỗi tất cả chúng ta. Chúa Thánh Thần, Đấng vĩ đại bị lãng quên trong lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta thường cầu xin Chúa Giêsu; chúng ta cầu xin Chúa Cha, đặc biệt trong “Kinh Lậy Cha”, nhưng không thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, có đúng thế không? Ngài là Đấng bị bỏ quên. Chúng ta cần xin sự trợ giúp của Người, sức mạnh của Người, linh hứng của Người. Chúa Thánh Thần là Đấng đã linh hoạt toàn cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu, cũng là Thần Khí hướng dẫn cuộc sống kitô, cuộc sống của con người nam nữ nói rằng họ là tín hữu kitô và muốn là tín hữu kitô. Đặt để dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần cuộc sống kitô và sứ mệnh, mà tất cả chúng ta đã lãnh nhận được nhờ sức mạnh của bí tích Thánh Tẩy, có nghĩa là tìm lại lòng can đảm tông đồ cần thiết giúp thắng vượt các thích nghi trần tục dễ dãi. ĐTC khẳng định như sau:

Trái lại, một kitô hữu, một cộng đoàn “điếc” đối với tiếng nói của Chúa Thánh Thần. thúc đẩy đem Tin Mừng đến tận cùng bờ cõi trái đất và xã hội, cũng trở thành một kitô hữu và một cộng đoàn “câm” không nói và không rao giảng Tin Mừng. Nhưng xin anh chị em nhớ điều này: hãy thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, để Người trợ giúp chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh. linh hứng chúng ta và làm cho chúng ta tiến tới. Xin Đức Maria Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Giáo Hội, đồng hành với tất cả chúng ta là những người đã được rửa tội; xin Mẹ giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và trong niềm vui phục vụ Tin Mừng, để như thế trao ban ý nghĩa tràn đầy cho cuộc sống chúng ta.

Tiếp đến ĐTC đã cất Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã chào tín hữu và các đoàn hành hương, đặc biệt là Hiệp hội giáo dân Lòng Chúa Thương Xót. Ngài nói ngày nay cần đến lòng thương xót biết bao, và thật là điều quan trọng anh chị em giáo dân đem nó đến với các môi trường xã hội khác nhau. Anh chị em cứ tiến lên. Chúng ta đang sống trong thời gian của lòng xót thương. Đây là thời gian của lòng thương xót. 

Chiều ngài mai tôi sẽ lên đường tông du tại Sri Lanka và Philippines. Xin cám ơn lời cầu chúc của anh chị em như viết trên băng rôn kia, xin cám ơn rất nhiều! Tôi xin anh chị em vui lòng đồng hành với tôi bằng lời cầu nguyện, và tôi cũng xin các anh chị em người Sri Lanka và Philipines sống tại Roma đặc biệt cầu nguyện cho tôi trong chuyến viếng thăm này. 

Xin chúc anh chị em một ngày Chúa Nhật an lành, cả khi trời hơi xấu một chút. Hôm nay cũng là ngày để tươi vui nhớ tới bí tích Rửa Tội của từng người. Xin anh chị em nhớ lời tôi xin là tìm ngày rửa tội của mình, để mỗi người có thể nói tôi đã được rửa tội ngày đó. Ước chi hôm nay là niềm vui của bí tích Rửa Tội. Xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi. Chúc anh chị em ăn trưa ngon miệng và xin hẹn gặp lại.


Linh Tiến Khải
Nguồn: Vietvatican

Ý nghĩa và ơn ích của Thánh Lễ Misa

08:08 |
Hỏi: Xin cha giải thích rõ vì sao Thánh Lễ ngày nay là sự tái diễn Hy Tế của Chúa Giêsu xưa trên thập giá.
Trả lời: Thánh Lễ Tạ Ơn (the Eucharist = Holy Mass = Missa) được coi là đỉnh cao (summit) và là suối nguồn ơn phúc của đời  sống Giáo Hội.Nghĩa là, trong Giáo Hội, không có việc đạo đức nào cao trọng và có giá trị thiêng liêng hơn Thánh Lễ Tạ Ơn.

Sở dĩ thế vì  Thánh Lễ Tạ Ơn là sự tái diễn cách bí tích hai việc quan trọng nhất mà chính Chúa Giêsu đã thực hiện trước khi Người chết và sống lại. Đó là Bữa Tiệc Ly cuối cùng qua đó Chúa Giêsu đã thiết lập hai bí tích quan trọng là Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức Thánh và cuộc Hy Tế cực trọng của Người  ngày hôm sau trên thánh giá, trong đó Chúa Giêsu vừa là Linh mục, vừa là Bàn thờ và là Lễ vật.

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã biến bánh và rượu nho thành Mình và Máu Người cho các Tông Đồ hiện diện ăn và uống với lời căn dặn “ anh  em  hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:19). Nghĩa là Chúa truyền cho các Tông Đồ trước hết và những người kế vị các ngài sau này là các Giám Mục và phụ tá thân cân là các Linh mục hãy tiếp tục dâng Hy Tế  đền tội và tạ ơn để làm sống lại cách bí tích việc Chúa biến bánh và rượu ra Mình và Máu Người và máu này đã thực sự đổ ra trong Hy Tế  trên thập giá sau đó để đền tội thay cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Nói khác đi ,Thánh lễ Tạ Ơn là sự tái diễn mầu nhiệm thánh thể và Hy Tế thập giá mà Chúa Giêsu là Chủ tế một lần xưa kia trong Bữa Tiệc Ly và trên Thập giá.

Gọi là Thánh lễ Tạ Ơn vì trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu “cầm bánh trong tay thánh thiện khả kính, ngước mắt lên trời hướng về Chúa là Cha toàn năng của Người  TẠ ƠN Chúa, dâng lời chúc tụng  bẻ ra trao cho các môn đệ mà nói:… Người cầm lấy chén cũng TẠ ƠN Chúa, dâng lời chúc tụng, và trao cho các môn đệ mà nói:…..(x. Kinh Nguyện Tạ Ơn I). Chúa Giêsu dâng lời cảm tạ Chúa Cha đã nhận hy tế đền tội của Người dâng  thay cho cả nhân loại.Vì thế Giáo Hội đã dạy rằng : “ mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó, “Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế”( 1Cor 5,7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện”(x. Lumen Gentium, số 3)

Nghĩa là , xưa trên thánh giá, Chúa Giêsu tự hiến làm con chiên bị đem đi giết và Người đã thực sự đổ máu khi bị tên lính cầm lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn khiến máu cùng nuớc chẩy ra.(x Ga 19:34).Tối hôm trước đó, khi trao chén rượu cho các Tông Đồ uống trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã nói: …Đây là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và cho nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.” 

Như vậy, mỗi khi cử hành Thánh Lễ Tạ ơn, thì Chúa Giêsu lại hiện diện và đổ máu cách bí tích để đền  tội cho chúng ta ngày nay như Người đã đền tội  cho tất cả những ai đã sinh ra và chết đi truớc khi Người đến .Xưa kia Người đổ máu thực sự trên thập giá, ngày nay trong Thánh Lễ, Người  lại đổ máu một lần nữa nhưng bằng cách bí nhiệm khiến giác quan loài người không xem thấy được nhưng Giáo Hội tin và dạy con cái mình phải tin để được ơn cưú độ.

Tóm lại, Thánh Lễ Tạ ơn là sự tái diễn Bữa Tiệc Ly và Hy tế đền tội thay cho nhân loại  của Chúa Kitô xưa trên thập giá được làm sống lại trên bàn thờ ngày nay qua nghi thức phụng vụ thánh mà Giáo Hội cử hành. Vì thế,  Thánh Lễ Tạ ơn là việc thờ phượng  cao trọng nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất và có giá trị cứu rỗi nhất  mà Giáo Hội dâng lên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và hiệp với Chúa Kitô qua tác vụ của các thừa tác viên có chức thánh(ordained ministers) là Giám mục hay Linh mục.

Chính vì ý nghĩa và giá trị thiêng liêng lớn lao  này của Thánh  Lễ Tạ ơn mà  mọi người tín hữu được mời  gọi nên siêng năng tham dự Thánh Lễ để hiệp cùng với Chúa Giêsu và nhờ Người,  chúng ta dâng lên Chúa Cha lễ vật là chính hồn xác chúng ta cùng với mọi vui buồn sướng  khổ đang trải qua trong cuộc sống hiệp thông với hy sinh cực trọng của Chúa Kitô để xin ơn tha thứ và phúc lành cho mình và cho người khác;  còn sống cũng như đã qua đời.

Đó là tất cả ơn ích và ý nghĩa cao trọng của Thánh Lễ Tạ Ơn cũng như  vì sao việc cử hành này  được coi là “lập lại giao ước của Chúa với con người.” (x. Sacrosanctum Concilium, số 10). 


LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn