14 căn bệnh của giáo triều Roma cần chữa trị

11:07 |
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 22-12-2014 dành cho các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh, ĐTC Phanxicô liệt kê 14 thứ bệnh cần bài trừ khỏi những người phục vụ tại giáo triều Roma.

Khoảng 60 Hồng Y và 50 GM cùng với nhiều giám chức, linh mục và giáo dân lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh đến chúc mừng ngài nhân dịp lễ Giáng Sinh và năm mới.

Mở đầu, ĐHY Angelo Sodano, 87 tuổi, niên trưởng Hồng Y đoàn, đại diện mọi người chúc mừng ĐTC và cho biết toàn thể các cộng tác viên thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh hứa hỗ trợ và cộng tác hoàn toàn với ĐTC trong việc phục vụ tình hiệp nhất của Giái Hội và hòa bình giữa các dân tộc. ĐHY cũng nói rằng tại Vatican mọi người, trong các nhiệm vụ khác nhau, hiệp nhất và dấn thân phục vụ ĐTC và Giáo Hội.

Diễn từ của ĐTC

Lên tiếng trong dịp này, sau khi gửi lời chúc mừng và cám ơn sự cộng tác của mọi người trong giáo triều Roma, ĐTC nhấn mạnh sự kiện các cơ quan trung ương Tòa Thánh họp thành một cơ thể duy nhất, và cũng như mọi cơ thể, có thể có những bệnh tật cần được chữa lành. Trong ý hướng chuẩn bị tâm hồn, xưng tội, để đón mừng Chúa Giáng Sinh, ĐTC đã liệt kê một loạt những căn bệnh mà những vị làm việc trong giáo triều Roma có thể mắc phải và cần phải thanh tẩy. Ngài nói:

”Giáo triều được kêu gọi cải tiến, luôn cải tiến và tăng trưởng trong tình hiệp thông, thánh thiện và khôn ngoan để chu toàn sứ mạng. Nhưng giáo triều, cũng như mỗi thân thể con người, cũng có thể bị bệnh, hoạt động không tốt, bị yếu liệt. Và ở đây tôi muốn liệt kê vài căn bệnh có thể, những bệnh của giáo triều. Đó là những bệnh thường xảy ra trong đời sống của giáo triều chúng ta. Đó là những bệnh tật và cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ của chúng ta đối với Chúa. Tôi nghĩ rằng ”danh sách” các bệnh này sẽ giúp chúng ta, như các Đấng Tu Hành trong sa mạc vẫn thường làm danh sách mà chúng ta nói đến hôm nay: danh sách này giúp chúng ta chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa giải, là một bước tiến tốt cho tất cả chúng ta để chuẩn bị lễ Giáng Sinh.

1. Trước tiên là bệnh tưởng mình là bất tử, miễn nhiễm, hoặc thậm chí là không thể thiếu được, và lơ là những kiểm điểm cần thiết và thông thường. Một giáo triều không tự phê bình, không canh tân, không tìm cách cải tiến, thì đó là một cơ thể đau yếu. Một cuộc viếng thăm bình thường tại các nghĩa trang có thể giúp chúng ta nhìn thấy tên của bao nhiêu người, của vài người mà chúng ta nghĩ họ là bất tử, miễn nhiễm, và không thể thay thế được! Đó là bệnh của người giàu có trong Phúc Âm nghĩ rằng mình sống vĩnh viễn (Xc Lc 12,13-21) và cả những người trở thành chủ nhân ông, cảm thấy mình cao trọng hơn mọi người, chứ không phải là người phục vụ tất cả mọi người. Bệnh này thường xuất phát từ bệnh quyền bính, từ mặc cảm là những người ưu tuyển, từ thái độ tự yêu mình, say mê nhìn hình ảnh của mình mà không nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa in nơi khuôn mặt của những người khác, đặc biệt là những người yếu đuối và túng thiếu nhất. Thuốc chữa bệnh dịch này là ơn thánh, ơn cảm thấy mình là người tội lỗi và thành tâm nói rằng: ”Chúng ta chỉ là những đầy tớ vô dụng. Chúng ta đã làm những gì chúng ta phải làm” (Lc 17,10).

2. Một bệnh khác là bệnh Marta, đến từ tên Marta, làm việc thái quá: tức là những người chìm đắm trong công việc, và lơ là với phần tốt hơn, là ngồi bên chân Chúa Giêsu (Xc Lc 10,38). Vì thế Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ của Ngài ”hãy nghỉ ngơi một chút” (Xc Mc 6,31), vì lơ là việc nghỉ ngơi cần thiết sẽ đi tới tình trạng căng thẳng và giao động. Thời gian nghỉ ngơi, đối với những người đã chấm dứt sứ mạng của mình, là điều cần thiết, cần phải làm, và cần phải sống thanh thản: khi trải qua một chút thời gian với những người thân trong gia đình và tôn trọng các kỳ nghỉ như những lúc bồi dưỡng tính thần và thể lý; cần học điều mà sách Qohelet đã dạy: ”Có thời gian cho mỗi điều” )3,1-15).

3. Cũng có thứ bệnh ”chai cứng” tâm trí và tinh thần: nghĩa là bệnh của những người có tâm hồn chai đá, ”cứng cổ” (Cv 7,51-6); bệnh của những người đang đi trên đường, đánh mất sự thanh thản nội tâm, mất sức sinh động và táo bạo, và ẩn nấp sau các giấy tờ, trở thành ”chiếc máy hồ sơ” chứ không còn là ”những người của Thiên Chúa” nữa (Xc Dt 3,12). Họ có nguy cơ đánh mất sự nhạy cảm nhân bản cần thiết để khóc với những người khóc và vui với những người vui! Đó là bệnh của những người mất ”tâm tình của Chúa Giêsu” (Xc Pl 2,5-11), vì con tim của họ, qua dòng thời gian, đã trở nên chai đá và không có khả năng yêu mến Chúa Cha và tha nhân vô điều kiện (Xc Mt 22,34-40). Thực vậy, là Kitô hữu có nghĩa là ”có cùng những tâm tình như Chúa Giêsu Kitô” (Pl 2,5), những tâm tình khiêm tốn, và hiến thân, không dính bén và quảng đại.

4. Bệnh kế hoạch hóa thái quá và duy hiệu năng. Khi tông đồ kế hoạch mọi sự một cách tỷ mỉ và tưởng rằng khi thực hiện việc kế hoạch hóa hoàn toàn thì mọi sự sẽ thực sự tiến triển, như thế họ trở thành một kế toán viên hay một nhà tư vấn kinh doanh. Chuẩn bị mọi sự là điều tốt và cần thiết, nhưng không bao giờ được rơi vào cám dỗ muốn đóng kín và lèo lái tự do của Chúa Thánh Linh, Đấng luôn luôn lớn hơn, quảng đại hơn mọi kế hoạch của con người (Xc Ga 3,8). Người ta lâm vào căn bệnh này vì ”ở lại thoải mái trong các lập trường tĩnh và bất biến của mình thì vẫn là điều dễ dàng và ung dung hơn. Trong thực tế, Giáo Hội tỏ ra trung thành với Chúa Thánh Linh theo mức độ Giáo Hội không chủ trương điều hành và thuần hóa Thánh Linh. Thánh Linh là sự tươi mát, sáng tạo và mới mẻ!”

5. Bệnh phối hợp kém. Khi các chi thể mất sự hiệp thông với nhau thì thân thể đánh mất hoạt động hài hòa và chừng mực của mình, trở thành một ban nhạc chỉ tạo ra những tiếng ồn ào, vì các thành phần của ban không cộng tác với nhau, không sống tinh thần hiệp thông và đồng đội. Khi chân nói với tay: ”Tôi không cần anh”, hoặc tay nói với đầu: ”Tôi điều khiển”, thì tạo nên sự khó chịu và gương mù.

6. Cũng có thứ bệnh ”suy thoái não bộ tinh thần”, hay là quên đi ”lịch sử cứu độ”, lịch sử quan hệ bản thân với Chúa, quên đi mối tình đầu (Kh 2,4). Đó là sự suy thoái dần dần các khả năng tinh thần trong một khoảng thời gian dài ngắn hơn kém, tạo nên tình trạng tật nguyền trầm trong cho con người, làm cho nó không còn khả năng thi hành một số hoạt động tự lập, sống trong tình trạng hoàn toàn tùy thuộc những quan niệm thường là tưởng tượng. Chúng ta thấy điều đó nơi những người không còn nhớ cuộc gặp gỡ của họ với Chúa, nơi những người hoàn toàn tùy thuộc hiện tại của họ, đam mê, tính thay đổi nhất thời, và những thứ kỳ quặc khác; ta thấy nơi những người kiến tạo quanh mình những bức tường và những tập quán, ngày càng trở thành nô lệ cho các thần tượng mà họ tay họ tạo nên.
7. Bệnh cạnh tranh và háo danh. Khi cái vẻ bề ngoài, những mầu áo và huy chương trở thành đối tượng ưu tiên của cuộc sống, quên đi lời thánh Phaolô: ”Anh em đừng làm gì vì cạnh tranh hoặc háo danh, nhưng mỗi người với tất cả sự khiêm tốn, hãy coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm tư lợi, nhưng hãy tìm lợi ích của người khác nữa” (Pl 2,1-4). Đó là căn bệnh đưa chúng ta trở thành những con người giả dối và sống một thứ thần bí giả hiệu, một chủ thuyết yên tĩnh giả tạo, Chính thánh Phaolô đã định nghĩa họ là ”những kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô” vì họ ”kiêu hãnh về những điều mà lẽ ra họ phải hổ thẹn và chỉ nghĩ đến những điều thuộc về trần thế này” (Pl 3,19)

8. Bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống. Đó là bệnh của những người sống hai mặt, hậu quả của sự giả hình về sự tầm thường và dần dần trở nên trống rỗng về tinh thần mà các văn bằng tiến sĩ hoặc các bằng cấp khác không thể lấp đầy được. Một thứ bệnh thường xảy ra nơi những người bỏ việc mục vụ, và chỉ giới hạn vào những công việc bàn giấy, đánh mất sự tiếp xúc với thực tại, với những con người cụ thể. Như thế họ tạo cho mình một thế giới song song, trong đó họ gạt sang một bên tất cả những gì họ nghiêm khắc dạy người khác, và bắt đầu sống một cuộc sống kín đáo và thường là tháo thứ. Sự hoán cải là điều rất cần thiết và không thể thiếu được đối với thứ bệnh rất nặng này (Xc Lc 15,11-32).

9. Bệnh 'ngồi lê đôi mách', lẫm bẩm và nói hành. Tôi đã nói nhiều về bệnh này và không bao giờ cho đủ. Đó là một bệnh nặng, thường bắt đầu bằng những cuộc chuyện trò, và nó làm cho con người thành người gieo rắc cỏ lùng cỏ dại như Satan, và trong nhiều trường hợp họ trở thành người ”điềm nhiên giết người”, giết hại danh thơm tiếng tốt của đồng nghiệp và anh em cùng dòng. Đó là bệnh của những người hèn nhát không có can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng. Thánh Phaolô đã cảnh giác: ”Anh em hãy làm mọi sự mà đừng lẩm bẩm, không do dự, để không có gì đáng trách và tinh tuyền” (Pl 2,14-18). Hỡi anh em, chứng ta hãy giữ mình khỏi những nạn khủng bố nói hành nói xấu!

10. Bệnh thần thánh hóa giới lãnh đạo. Đó là bệnh của những kẻ dua nịnh cấp trên, hy vọng được ân huệ của họ. Họ là nạn nhân của công danh sự nghiệp và của thái độ xu thời, tôn kính con người chứ không tôn kính Thiên Chúa (Xc Mt 23,8-12). Đó là những người khi phục vụ chỉ nghĩ đến điều mà họ phải đạt được chứ không tới điều mà họ phải làm. Những người bủn xỉn nhỏ nhặt, bất hạnh, và chỉ hành động vì ích kỷ (Xc Gl 5,16-25). Bệnh này có thể xảy ra cho cả các cấp trên khi họ chiêu dụ vài cộng tác viên để được sự tuân phục, trung thành và tùy thuộc về tâm lý, nhưng kết quả cuối cùng là một sự đồng lõa thực sự.

11. Bệnh dửng dưng đối với người khác. Khi mỗi người chỉ nghĩa đến mình và đánh mất sự thành thực và quan hệ nồng nhiệt với nhau. Khi người giỏi nhất không đặt kiến thức của mình để phục vụ đồng nghiệp yếu kém hơn. Khi người ta biết được điều gì và giữ riêng cho mình thay vì chia sẻ tích cực với những người khác, Khi vì ghen tương và tinh ranh, họ cảm thấy vui mừng khi thấy người khác ngã xuống, thay vì nâng người ấy dậy và khích lệ họ!

12. Bệnh có bộ mặt đưa đám. Tức là những người cộc cằn và hung tợn, cho rằng để tỏ ra là nghiêm minh, cần có bộ mặt âu sầu, nghiêm khắc và đối xử với những người khác, nhất là những người cấp dưới, một cách cứng nhắc, cứng cỏi và kiêu hãnh. Trong thực tế, sự nghiêm khắc đóng kịch và thái độ bi quan vô ích thường là triệu chứng của sự sợ hãi và bất an về mình. Tông đồ phải cố gắng là một người nhã nhặn, thanh thản, nhiệt thành và vui tươi, thông truyền niềm vui tại bất kỳ nơi nào. Một con tim đầy Thiên Chúa là một con tim hạnh phúc, chiếu tỏa và làm lan rộng niềm vui cho tất cả những người quanh mình, người ta nhận thấy ngay điều đó.. Chúng ta đừng đánh mất tinh thần vui tươi, tinh thần hài hước, thậm chí tự cười mình, làm cho chúng ta trở thành những người dễ mến, cả trong những hoàn cảnh khó khăn”. Một chút tinh thần hài hước thật là điều tốt cho chúng ta dường nào. Thật là điều tốt nếu chúng ta thường đọc kinh của Thánh Thomas More: tôi vẫn đọc kinh đó hằng ngày và điều này mang nhiều ích lợi cho tôi.

12. Bệnh tích trữ. Khi tông đồ tìm cách lấp đầy khoảng trống trong con tim của mình bằng cách tích trữ của cải vật chất, không phải vì cần thiết nhưng chỉ vì để cảm thấy an ninh. Trong thực tế không có gì vật chất có thể mang theo mình vì ”khăn liệm không có túi” và mọi kho tàng vật chất của chúng ta, dù có thực đi nữa, không bao giờ có thể lấp đầy khoảng trống, trái lại càng làm cho nó khẩn trương và sâu đậm hơn. Chúa lập lại với những người ấy: ”Ngươi bảo: nay tôi giầu có, đã đầy đủ của cải rồi, tôi chẳng cần gì nữa. Nhưng ngươi không biết mình là kẻ bất hạnh, khốn nạn, một kẻ nghèo, mù lòa và trần trụi.. Vậy ngươi hãy nhiệt thành và hoán cải” (Kh 3,17-19). Sự tích trữ của cải chỉ làm cho nặng nề và làm cho hành trình trở nên chậm hơn! Và tôi nghĩ đến một giai thoại: trước kia các tu sĩ dòng Tên Tây Ban Nha mô tả dòng như một đoàn ”kỵ binh nhẹ nhàng của Giáo Hội”. Tôi nhớ cuộc dọn nhà của một tu sĩ dòng Tên trẻ, trong khi chất lên xa vận tải bao nhiêu đồ đạc: hành lý, sách vở, vật dụng, quà tặng, thì một tu sĩ dòng Tên cao niên quan sát và mỏỉm cười nói: đây có phải là kỵ binh nhẹ của Giáo Hội không?”. Những cuộc dọn nhà của chúng ta là một dấu hiệu về bệnh ấy.

13. Bệnh những nhóm khép kín, trong đó sự thuộc về một nhóm nhỏ trở nên mạnh hơn thuộc về cả thân mình và trong một số trường hợp, mạnh hơn thuộc về chính Chúa Kitô. Cả căn bệnh này cũng luôn bắt đầu bằng những ý hướng tốt là tiêu khiển với các bạn bè, nhưng với thời gian nó trở nên xấu, thành bệnh ung thư đe dọa sự hài hòa của thân thể và tạo nên bao nhiêu điều ác, gương mù, nhất cho cho những anh em bé nhỏ hơn của chúng ta. Sự tự hủy diệt, hay là ”những viên đạn của bạn đồng ngũ” chính là nguy hiểm tinh tế nhất. Đó là sự ác đánh từ bên trong, và như Chúa Kitô đã nói, ”nước nào chia rẽ bên trong thì sẽ bị tàn lụi” (Lc 11,17).

14. Sau cùng là bệnh tìm kiếm lợi lộc trần tục và phô trương. Khi tông đồ biến việc phục vụ của mình thành quyền lực, và biến quyền lực của mình thành hàng hóa để kiếm được những lợi lộc phàm tục và được nhiều quyền thế hơn. Đó là bệnh của những người tìm cách gia tăng vô độ quyền lực và để đạt được mục tiêu đó, họ vu khống, mạ lỵ và làm mất thanh danh của người khác, thậm chí trên cả các nhật báo và tạp chí, dĩ nhiên để biểu dương và chứng tỏ mình có khả năng hơn người khác. Cả thứ bệnh này cũng gây hại rất nhiều cho thân mình, vì nó làm cho con người đi tới độ biện minh việc sử dụng bất kỳ phương thế nào để đạt tới mục tiêu ấy, thường là nhân danh công lý và sự minh bạch. Và ở đây tôi nhớ đến một linh mục đã gọi các ký giả đến để kể cho họ - một điều mà LM này bịa đặt - về những chuyện riêng tư của những linh mục khác và của giáo dân. LM ấy chỉ muốn được xuất hiện trên những trang nhất của báo chí, và như thế cảm thấy mình quyền năng và chiến thắng, nhưng tạo ra bao nhiêu đau khổ cho những người khác và cho Giáo Hội! Thật là kẻ đáng thương!

ĐTC nhận xét rằng những căn bệnh và cám dỗ ấy cũng là nguy cơ của mỗi Kitô hữu, mỗi giáo xứ, cộng đoàn, dòng tu, các phong trào Giáo Hội, trên bình diện cá nhân và cộng đoàn.

Ngài mời gọi tất cả mọi người hãy sống theo chân lý trong sự thật, nhất là trong mùa Giáng Sinh này, hãy chuẩn bị xưng tội và xin Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, chữa lành mọi vết thương tội lỗi mà mỗi người chúng ta mang trong tâm hồn, và xin Mẹ nâng đỡ Giáo Hội và giáo triều để tất cả được lành mạnh, thánh thiện và thánh hóa, hầu tôn vinh Con của Mẹ và để cứu độ chúng ta và toàn thế giới.

Sau bài diễn văn, ĐTC đã đích thân đến bắt tay chúc mừng các Hồng Y đứng thành hình vòng cung ở sảnh đường Clemente trong dinh Tông Tòa, và tiếp đến, các GM cũng như các giám chức, các LM khác và các giáo dân ở vị trí lãnh đạo, đến trước ĐTC để chúc mừng và bắt tay ngài.

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: VietVatican

Tiếng gọi và ơn gọi

07:59 |
Cuộc sống con người là quà tặng bất ngờ và thú vị của Thượng đế. Cuộc sống ấy vốn dĩ rất phức tạp, phong phú và đa dạng. Cuộc sống đó có nhiều tiếng gọi và nhiều ơn gọi, vì thế, tiếng gọi và ơn gọi cũng rất đa dạng và phong phú, gắn liền với vận mệnh cuộc đời của con người. Có người bước theo tiếng gọi đi tu và sống ơn gọi đời tu như làm linh mục, ma xơ, tu sĩ. Có người chọn sống giữa đời thường với đời sống hôn nhân gia đình, làm bác sĩ, kỹ sư, diễn viên, ca sĩ v.v… Vâng, có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu tiếng gọi và ơn gọi. Đâu là mối liên hệ giữa tiếng gọi và ơn gọi nơi cuộc đời của một con người? Làm thế nào để con người thời đại hôm nay nhận ra và can đảm dấn thân cho tiếng gọi và ơn gọi đời mình với cả tình yêu và trách nhiệm?
Trước tiên, nói đến tiếng gọi và ơn gọi là nói đến người gọi và người được gọi. Trong cuộc sống đời thường, có lẽ mỗi người trong chúng ta đã có ít nhiều kinh nghiệm về việc cất tiếng gọi một ai đó hay được một ai đó gọi tên mình.
Khi cất tiếng gọi một ai đó là muốn tạo lập một mối liên hệ, muốn trao cho người được gọi một thông tin, một yêu cầu, một sứ vụ. Dựa vào Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đã cất tiếng gọi các tổ phụ, ngôn sứ và trao cho các ngài những trọng trách, những sứ vụ quan trọng.
Thiên Chúa đã cất tiếng gọi tổ phụ Abraham hãy rời bỏ nhà cửa, đất đai, xứ sở, đi đến một miền đất xa lạ, để trở thành người cha chung của một dân tộc đông như sao trên trời và như cát bãi biển.
Thiên Chúa cũng đã hiện ra trong bụi gai đang bốc cháy và sai Môsê đến giải phóng dân Israel thoát khỏi ách nô lệ lầm than gần 500 năm bên Ai Cập.
Ngoài ra, Thiên Chúa cũng đã cất tiếng gọi Êlia trong sự tĩnh lặng của làn gió hiu hiu, để khích lệ và an ủi.
Chúa đã cất tiếng gọi cậu bé Samuel đang ở trong đền thờ với thầy cả Hêli, để chuẩn bị cậu làm ngôn sứ của Ngài.
Đến thời Tân ước, Chúa Giêsu đã cất tiếng gọi bốn người môn đệ đầu tiên là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan đang đánh cá bên bờ biển hồ. Chúa cũng đã gọi Mathêu đang ngồi ở bàn thu thuế: “Hãy theo Thầy”. Và ngay lập tức, họ đã đáp lại lời mời gọi yêu thương của Chúa Giêsu dù không biết tương lai sẽ đi đến đâu, về đâu.
Vâng, tiếng gọi và ơn gọi luôn gắn liền với vận mệnh cuộc đời của con người.
Tiếp đến, kinh nghiệm về tiếng gọi và ơn gọi của những con người trong dòng chảy lịch sử cứu độ năm xưa cũng là những bài học ý nghĩa cho con người thời đại hôm nay. Vậy thì, làm thể nào để con người thời đại hôm nay nhận ra và can đảm dấn thân cho tiếng gọi và ơn gọi đời mình?
Đây là một lộ trình chọn lựa đòi hỏi sự khôn ngoan nhận định và can đảm chấp nhận của mỗi cá nhân.
Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy: có những người vì tình yêu đã bỏ qua một bên sự giàu có của gia đình để chọn lựa kết hôn với một người không môn đăng hộ đối với gia đình mình. Có những người can đảm từ bỏ nhà cửa sang trọng, vật chất tiện nghi, nghề nghiệp ổn định, vị trí xã hội cao trọng để hy sinh dấn thân cho lý tưởng làm linh mục, ma xơ, tu sĩ, hoặc trở nên những nhà truyền giáo trong những vùng đất xa xôi ở Châu Phi … mà phục vụ mọi người. Vâng, ơn gọi là một bậc sống, một hồng ân, là cả một cuộc đời của con người.
Thực tế nghiệt ngã của kiếp người còn cho chúng ta thấy: có những người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp lại không cảm nhận được hạnh phúc thật sự khi sống với một người chồng được mai mối trong khi bản thân không hề có tình yêu đến từ sự rung động chân thành của nhịp đập trái tim. Họ cảm nhận một cuộc sống nặng nề, bất an, và không có hạnh phúc trong tâm hồn. Hay cũng có những người sống ơn gọi đời tu nhưng lại trớ trêu nhận ra mình không hạnh phúc. Vì vậy, đã xuất hiện một sự hối hận muộn màng và một cuộc đời kéo lê trong những sai lầm, bất hạnh.
Vậy thì, điều cốt lõi quyết định ơn gọi của cuộc đời mỗi con người đó chính là việc lắng nghe tiếng lòng của mình: Tôi đang thật sự yêu ai? Tôi đang thật sự muốn cái gì? Tôi sống trên đời này để làm gì? Cái gì là quan trọng nhất đối với tôi trong cuộc đời này?
Khởi đi từ những câu hỏi chất vấn lòng mình như thế, con người sẽ tìm ra một định hướng, một lối sống và một đáp trả thích hợp cho tiếng gọi và ơn gọi của Thiên Chúa dành cuộc đời của mình.
Vâng, có rất nhiều tiếng gọi và ơn gọi nhưng vẫn chỉ có một cuộc đời. Vì thế, không ai có thể sống thay cho cuộc đời của chúng ta mà chỉ có chính bản thân chúng ta chọn lựa hạnh phúc hay đau khổ cho vận mệnh cuộc đời của mình. Điều này hệ tại đến việc lắng nghe tiếng gọi tình yêu của Thiên Chúa.
Thế nhưng việc lắng nghe và tìm hiểu thánh ý của Thiên Chúa là điều không phải dễ dàng. Đó là cả một quá trình suy nghĩ, cầu nguyện không ngừng. Nhiều lúc con người cảm thấy bế tắc, tuyệt vọng vì không biết mình sống để làm gì, mình đang muốn cái gì. Những lúc như thế, con người cần hướng lòng về Thiên Chúa, để xin Ngài mở ra cho chúng ta một con đường, một hướng đi tìm về nguồn cội Chân – Thiện – Mỹ, nguồn cội của tình yêu vĩnh cửu.
Cuối cùng, thời khắc rất gần với việc kỷ niệm biến cố Chúa Giáng sinh làm người và mừng năm mới 2012 giúp chúng ta cảm nhận rằng, đã có một Thiên Chúa dám chấp nhận dấn thân cho tiếng gọi của tình yêu cứu độ nhân loại.
Ngài đã chấp nhận thân phận con người, sống ơn gọi làm một người bình thường như mọi người, chỉ trừ tội lỗi, vì yêu thương nhân loại bằng một tình yêu nhưng không và yêu cho đến cùng. Điều này làm nổi bật tiêu chuẩn để phân định ơn gọi đời mình, đó là: Tình Yêu. Có những người mưu sinh vất vả với những nghề nặng nhọc như quét rác, lượm ve chai, bán vé số, đánh giày nhưng họ vẫn cảm nhận được hạnh phúc, vì động lực làm việc chính là tình yêu: tình yêu của những người vợ, người mẹ bươn chải kiếm tiền để lo cho chồng đang bệnh nặng, lo cho con đang trên bước đường học vấn…
Phải chăng, thông điệp cốt lõi nhất nơi biến cố Chúa giáng sinh làm người là tiếng gọi của tình yêu tự hạ để dấn thân phục vụ tha nhân? Gương tự hạ của Ngôi Lời nhập thể đã thật sự trở thành động lực tình yêu cho bạn, cho tôi và cho tất cả mọi người như thế nào? Tiếng gọi và ơn gọi dành cho mỗi người chúng ta là được làm con Thiên Chúa và là anh em với nhau! Bạn đón nhận tiếng gọi và ơn gọi đó như thế nào?
Tâm Thương

Gia đình là ơn lớn lao Thiên Chúa ban cho thế giới

16:41 |
Lễ Giáng Sinh gần tới thắp lên một ánh sáng lớn trên mầu nhiệm ơn gia đình. Con Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong một gia đình tại Nagiarét. Cũng như Mẹ Maria và Cha thánh Giuse, mọi gia đình có thể tiếp đón Chúa Giêsu, lắng nghe Người, nói chuyện với Người, giữ gìn Người, che chở Người, lớn lên với Người và như thế cải thiện thế giới.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với 20.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 17-12-2014 tại quảng trường thánh Phêrô.
Mở đầu bài huấn dụ ngài nói: Thượng Hội Đồng Giám Mục về gia đình vừa được cử hành đã là chặng đầu tiên của một lộ trình sẽ kết thúc vào tháng 10 năm tới với một Hội nghị về đề tài “Ơn gọi và sứ mệnh của gia đình trong Giáo Hội và trong thế giới”. Lời cầu nguyện và suy tư phải đồng hành với lộ trình này liên quan tới toàn Dân Chúa. Tôi cũng muốn rằng các suy tư thường lệ của các buổi tiếp kiến ngày thứ tư được lồng vào trong lộ trình chung này. Vì thế tôi đã quyết định cùng anh chị em trong năm này suy tư về gia đình, về ơn lớn lao mà Chúa đã ban cho thế giới ngày từ đầu, khi trao phó cho Ađam và Evà sứ mệnh sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy trái đất (St 1,28). Ơn đó Chúa Giêsu đã minh xác và đóng ấn trong tin mừng của Người. Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ:
Lễ Giáng Sinh đến gần thắp lên một ánh sáng lớn trên mầu nhiệm này. Sự nhập thể của Con Thiên Chúa mở ra một khởi đầu mới trong lịch sử đại đồng của người nam và người nữ. Và khởi đầu mới này xảy ra trong một gia đình tại Nagiarét. Chúa Giêsu đã sinh ra trong một gia đình. Ngài đã có thể đến một cách đặc biệt như một chiến sĩ, một hoàng đế… Nhưng không, Ngài đến như con của một gia đình, trong một gia đình. Đây là điều quan trọng. Hãy nhìn vào hang đá, cảnh này đẹp biết bao!
Thiên Chúa đã chọn sinh ra trong một gia đình nhân loại, mà chính Người đã thành lập. Người đã thành lập nó trong một làng quê hẻo lánh vùng ngoại biên của đế quốc Roma. Không phải tại Roma, là thủ đô của Đế quốc. không phải trong một thành phố lớn, nhưng trong một vùng ngoại biên, hầu như vô hình, hơn thế nũa còn mang tiếng xấu. Các Phúc Âm cũng nhắc tới điều này, như thể là một kiểu để nói rằng: “Đời nào từ Nagiarét lại có thể phát xuất điều gì tốt lành sao?” (Ga 1,46). Có lẽ trong nhiều phần đất trên thế giới chúng ta cũng còn nói như vậy, khi nghe tên của vùng ngoại ô nào đó của một thành phố lớn. Thế nhưng chính từ đó, từ vùng ngoại biên của Đế quốc vĩ đại, đã khởi đầu lịch sử thánh thiện và tốt lành nhất: lịch sử của Chúa Giêsu giữa loài người! Và ở đó có gia đình Nagiarét.
Chúa Giêsu đã sống trong vùng ngoại biên ấy 30 năm. Thánh sử Luca tóm tắt giai đoạn này như sau: Chúa Giêsu “vâng phục các Ngài” nghĩa là Mẹ Maria và Cha thánh Giuse. 
Có người có thể hỏi: Vì Thiên Chúa này đến cứu chúng ta mà đã mất đi 30 năm ở dó, trong vùng ngoại biên mang tiếng xấu sao? Người đã mất 30 năm. Và Người đã muốn điều này. Con đường của Chúa Giêsu là trong gia đình ấy.
Và mẹ giữ gìn mọi sự ấy trong tim, và Chúa Giêsu đã “lớn lên trong khôn ngoan, tuổi tác và ơn thánh trước mặt Thiên Chúa và loài người” (Lc 2,51-52). Người ta không nói tới các phép lạ hay các chữa lành – Người đã không làm phép lạ nào – người ta không nói tới các giảng dậy và đám đông chạy tới với Người. Tại Nagiarét mọi sự xem ra xảy ra “một cách bình thường” theo các thói quen của một gia đình do thái đạo hạnh và cần mẫn: làm việc, người mẹ nấu nướng, làm mọi việc nhà, ủi áo, mọi việc mà một bà mẹ làm. Người cha thợ mộc làm việc, dậy con làm việc. Ba mươi năm: cha ơi, uổng phí qúa! Nhưng chúng ta đâu có biết. Các con đưòng của Thiên Chúa nhiêm mầu. Nhưng điều quan trọng ở đó là gia đình! Và đó đã không phải là uổng phí nhé. Các vị đã là các đại thánh: Đức Maria là ngưòi phụ nữ thánh thiện nhất, vô nhiễm nhất, và thánh Giuse là người công chính nhất… Gia đình.
Chắc chắn chúng ta sẽ cảm động vì câu chuyện kể lại Chúa Giêsu thiếu niên đương đầu với các buổi hội họp của cộng đoàn tôn giáo và các bổn phận của cuộc sống xã hội; khi biết Người đã làm việc như thế nào với thánh Giuse như là người thợ trẻ; và rồi kiểu Người tham dự việc lắng nghe Thánh Kinh, cầu nguyện với các Thánh vịnh và tham dự biết bao sinh hoạt quen thuộc khác của cuộc sống thường ngày. Các Phúc Âm, trong sự giản dị, đã không kể lại gì về tuổi thanh niên của Chúa Giêsu và để nhiệm vụ đó cho việc suy niệm yêu mến của chúng ta. Chắc chắn không khó tưởng tượng cảnh các bà mẹ có thể học hỏi nơi các quan tâm của Mẹ Maria đối với Người Con ấy! Và các người cha có thể rút tỉa ra từ gương của thánh Giuse, người công chính tận hiến đời mình để nâng đỡ và bảo vệ con trẻ và vợ, bảo vệ gia đình mình trong những giai đoạn khó khăn! Để không nói rằng các người trẻ có thể được khích lệ bởi Chúa Giêsu thanh niên hiểu sự cần thiết và vẻ đẹp của việc vun trồng ơn gọi sâu xa hơn của mình, và mộng ước lớn lao!
Và Chúa Giêsu đã vun trồng trong 30 năm đó ơn gọi của Người mà vì nó Thiên Chúa cha đã gửi Người xuống thế, đúng không? Thiên Chúa của Cha. Chúa Giêsu đã không bao giờ chán nản trong thời gian ấy, nhưng đã can đảm lớn lên để tiến tới với sứ mệnh của mình.
Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ như sau:
Mỗi gia đình kitô – như Mẹ Maria và Cha thánh Giuse đã làm – có thể trước hết tiếp đón Chúa Giêsu, lắng nghe Người, nói chuyện với Người, gìn giữ Người, che chở Người, lớn lên với Người, và như thế cải tiến thế giới. Chúng ta hãy dành chỗ trong trái tim và ngày sống cho Chúa. Mẹ Maria và Cha thánh Giuse cũng đã làm như thế, và điều này không dễ: các ngài đã phải vượt thắng biết bao nhiêu khó khăn! Đó đã không phải là một gia đình gỉa tạo, đó đã không phải là một gia đình không thật. Thánh gia Nagiarét khiến cho chúng ta dấn thân tái khám phá ra ơn gọi và sứ mệnh của gia đình, của mỗi gia đình. Và cũng như đã xảy ra tại Nagiarét, có thể xảy ra cho chúng ta: khiến cho tình yêu trở thành bình thường chứ không phải hận thù, làm cho sự trợ giúp nhau trở thành điều chung, chứ không phải sự thờ ơ hay thù nghịch. Như vậy không phải tình cờ mà Nagiarét có nghiã là “Người canh giữ”, như Phúc Âm nói Đức Maria “giữ gìn mọi điều ấy trong tim mình” (Lc 2,19.51) Kể từ đó, mỗi khi có một gia đình giữ gìn mầu nhiệm này, cả khi có ở ngoại biên của thế giới đi nữa, thì mầu nhiệm của Chúa Giêsu đến cứu chúng ta hoạt động. Và Người đến để cứu rỗi thế giới. Và sứ mệnh lớn của gia đình là ở đó: dành chỗ cho Chúa Giêsu đến, tiếp nhận Chúa Giêsu trong gia đình, nơi con người của con cái, của chồng vợ, của ông bà, Chúa Giêsu ở đó. Tiếp đón Người ở đó để Người lớn lên trong gia đình, trong tinh thần. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn này trong các ngày cuối cùng trước lễ Giáng Sinh.
Đức Thánh Cha đã chào các doàn hành hương đến từ Bắc Mỹ và các nước Âu châu, cũng như từ Mêhicô, Argentina, Brasil và các nước châu Mỹ Latinh khác. Ngài chúc mọi người một lễ Giáng Sinh tươi vui và năm mới 2015 an lành hạnh phúc.
Chào các tín hữu vùng Trung Đông ngài nói:
trong lễ Giáng Sinh Thiên Chúa hạ mình xuống trần gian, trở thành bé nhỏ và nghèo nàn. Ngài mời gọi chúng ta nên giống Ngài. Xin Đức Trinh Nữ Marria Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng ta giúp chúng ta nhận ra gương mặt của Thiên Chúa làm người nơi gương mặt của tha nhân, cách riêng nơi những ngưòi yếu đuối nhất và bị gạt bỏ ngoài lề xã hội.
Với các tín hữu Ba Lan Đức Thánh Cha cầu chúc họ một lễ Giáng Sinh thánh đức và một Năm mới nhiều tươi vui, an lành. Ngài xin Đấng Emmanuel, Hoàng Tử Hòa Bình, chiếu dãi ánh sáng hy vọng và tình yêu của Ngài trên từng người và gia đình họ.
Với các nhóm tiếng Ý Đức Thánh Cha đặc biệt chào các sinh viên Đại học giáo hoàng Nữ Vương các Tông Đồ, cộng đoàn Đạo binh Chúa Kitô với các tân linh mục, các cặp vợ chồng nhảy Tango quy tụ về Roma biểu diễn chúc mừng sinh nhật thứ 78 của Đức Thánh Cha. Ngài khích lệ mọi người dấn thân sống những ngày này trong lời cầu nguyện và làm các việc lành để biến cố Chúa giáng sinh làm cho con tim được tràn ngập niềm vui mà Ngài muốn ban cho mọi người.
Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các đôi tân hôn Đức Thánh Cha khích lệ người trẻ tiếp nhận mầu nhiệm Bếtlêhem với cùng niềm tin Mẹ Maria đã tiếp nhận lời truyền tin của thiên thần Gabriel. Ngài khuyên các bệnh nhân kín múc nơi Mẹ niềm vui và sư bình an mà Chúa Giêsu đem đến cho thế giới. Sau cùng ngài nhắn nhủ các đôi tân hôn hãy biết noi gương Mẹ qua việc cầu nguyện và sống các nhân đức.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.
Linh Tiến Khải (RV.)
Nguồn: Giaophanbaria.org

Sống trên đời để làm gì?

09:15 |
Sống trên đời để làm gì? Đây là một câu hỏi chẳng dễ trả lời chút nào. Cứ sự thường, ta chẳng mảy may để ý đến nó, vì càng nghĩ đến nó, ta chỉ càng cảm thấy bế tắt bởi một mớ những tư tưởng tối tăm lẫn lộn. Khi người ta vui, thành công, hạnh phúc, người ta chẳng cần biết lý do nào đưa đến sự hiện hữu của mình. Khi người ta còn trẻ, người ta thường không bận tâm mấy đến chuyện vì sao mình lại hiện hữu ở nơi đây. Khi người ta tràn trề sức sống, người ta chỉ chăm chú đến việc làm cho mình được triển nở, được khẳng định đến mức hoàn hảo nhất, chứ chẳng có giờ mà lo nghĩ đến câu hỏi rắc rối này. Chỉ khi nào ta đau khổ, thấy mất đi ý nghĩa cuộc đời, thấy mình sắp phải bước vào ngưỡng cửa của một thế giới khác, thấy hơi thở của mình dường như đã đến hồi cạn kiệt, ta mới cảm thấy có cái gì đó bồi hồi trong tận cõi linh hồn, chất vấn ta về nguồn cội thiêng liêng, về cái mà ta ít bao giờ muốn nghĩ tới.
Thực ra thì, giả như không có ta hiện diện trên đời, có gì mất mát xảy ra không? Câu trả lời đến ngay với ta có lẽ là “không” – một con số “0” thật to tướng. Thế giới này mênh mông là thế, ta còn nhỏ hơn là một chấm nhỏ li ti giữa biết bao con người và muôn loài thọ tạo. Chắc là vũ trụ này cũng chẳng tan biến đi khi ta chết! Chắc là xã hội này vẫn cứ tồn tại, thậm chí là thịnh vượng hơn, dù ta có sống chết ra sao! Trước khi ta ra đời, chẳng phải mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường đấy thôi, cả nhiều tỷ năm rồi. Quãng thời gian từ lúc ta sinh ra đến lúc chết đi, so với dòng chảy của lịch sử, chẳng khác nào một khoảng khắc bé xíu. Trong lúc sinh thời ấy, đến với ta dường như chỉ toàn là chua chát với đắng cay. Sống mà luôn có niềm vui, bình an, hạnh phúc thì có trở về với cát bụi cũng thấy được mãn nguyện vì thấy dẫu sao mình cũng được hưởng chút ý nghĩa khi hiện diện trên đời. Đã sống không được bao lâu mà đau buồn này đến khổ sở khác kéo đến, cầu không được, ước không thành, phải xa người mình yêu, gần người mình ghét… Một cuộc sống như vậy thì sống để làm gì? Ta ước gì mình đừng tồn tại để không phải gánh chịu số phận hẩm hiu ấy. Nhưng có vẻ như tồn tại hay không tồn tại không phải là do ý ta muốn và chọn. Nó không nằm trong quyền quyết định của ta.
Nếu như có ta hay không có ta, thế giới này cũng chẳng khác nhau mấy, thì tại sao Tạo Hóa lại muốn cho ta được “hiện hữu” chứ không phải nằm trong cõi “hư vô”? Khi đưa ta từ chỗ “không” ra chỗ “có”, Tạo Hóa ban cho ta một hình hài để được nhìn thấy, ban cho ta một cái tên để được gọi, một khuôn mặt để được nhận diện, và một chỗ đứng trong thế giới hữu hình này. Đối với nhiều người, ta chỉ là một trong thế giới. Nhưng đối với một số người khác, ta là cả thế giới đầy yêu thương. Ta có một vị thế độc tôn mà không ai trên đời này, dù giỏi giang và thánh thiện mấy, có thể thay thế được. Bố mẹ ta chỉ có thể sinh ra ta một lần thôi. Những người khác do bố mẹ ta sinh ra trước và sau đó, được gọi là anh chị em của ta, chứ không phải là ta. “Tính duy nhất” của sự hiện hữu làm cho ta cảm thấy mình thật giá trị vô cùng. Giữa hai thái cực của cái “không” và “có”, Tạo Hóa đã chọn cái “có” cho mình. Ta chẳng hiểu vì sao, nhưng ta đoan chắc rằng hẳn là Ngài có lý do để làm điều ấy và nhiệm vụ của ta là vâng phục Ngài, đón nhận món quà hiện hữu Ngài ban cho với một lòng biết ơn và thành kính.
Thực ra, hiện diện trong thế giới này, ta không vô dụng như mình vẫn tưởng. Dù ta có cuộc sống riêng của mình nhưng sự sống của ta được gắn kết với nhiều người bằng những mối tương quan. Ngay khi biết ta được thành hình trong dạ mẹ, đã có biết bao người mong ngóng ta chào đời. Khi ta cất tiếng khóc đầu tiên, niềm rạng rỡ của những người thân cũng long lanh nơi khóe mắt. Khi lớn lên, ta tạo lập giao kết với nhiều người khác nữa. Thế giới của ta ngày càng được mở ra với chằng chịt những mối quan hệ ấy. Lối sống của ta, vì nằm trong các mối liên hệ khác, nên cũng có một sức ảnh hưởng không hề nhỏ, cho chính ta và cho những ai nằm trong thế giới ấy của ta. Biết đâu một sự hy sinh của ta giúp tăng thêm nghị lực cho người khác. Biết đâu một chút chia sẻ của ta cũng giúp sưởi ấm nhiều tâm hồn. Biết đâu một lời nói ngọt ngào của ta giúp ai đó thêm tin yêu vào cuộc sống. Giọt mồ hôi nước mắt của ta nơi ruộng đồng đã giúp nhiều người có được miếng cơm ngon. Những vất vả của ta nơi bục giảng giúp đào tạo bao lớp trẻ nhiệt thành cho đất nước… Dù tầm ảnh hưởng của nó không như các bậc vĩ nhân, và có khi chẳng mấy ai để ý đến, nhưng sự thật là nếu không có những việc làm ấy của ta, thế giới này cũng thiếu đi một cái gì đó, dù là nhỏ nhoi, và chắc là nó cũng khác đi chút gì đó.
Cho ta hiện hữu trên đời, Tạo Hóa cũng ban cho ta một sứ mạng cao cả, mà chỉ mình ta mới có thể chu toàn được. Sứ mạng ấy trước hết là dành cho ta, sau đó là hướng đến tất cả những người khác. Ngài mời gọi chúng ta hãy hướng về Ngài, đứng về phía của Ngài, cùng cộng tác với Ngài để tiếp tục bồi đắp thêm cho công trình tạo dựng. Đây quả thực là một niềm vinh hạnh dành cho chúng ta vì vốn dĩ Ngài không cần chút sức mọn của chúng ta. Chúng ta thụ hưởng sự sống từ Ngài nên chắc chắn chúng ta phải bám vào Ngài để tiếp tục tồn tại. Nhưng Ngài không đối xử với chúng ta như một nô lệ. Trái lại, Ngài xem chúng ta như một cộng sự viên bằng cách ban cho chúng ta có tự do, ý chí và lý trí. Chúng ta có quyền đưa ra những chọn lựa cho mình và chọn lựa ấy của chúng ta sẽ có những tác động đến những loài khác. Ta có thể trở thành người mang niềm vui đến cho người khác, nhưng cũng có thể trở nên kẻ hủy diệt thế gian. Ta có thể là một ngọn lửa sưởi ấm lòng người nhưng cũng có thể là một tảng băng lạnh lùng gieo chết chóc. Ta trở thành con người như thế nào là tùy ở những chọn lựa của ta hằng ngày nơi cuộc sống.
Cứ mỗi khi ta sống yêu thương, trao ban, gắn kết, ta dường như thấy cuộc sống của mình thật ý nghĩa. Đó chính là dấu chỉ của Tạo Hóa cho ta biết là ta đang đi đúng đường để hướng về Chân Thiện Mỹ, là chính Ngài. Ngài cần mỗi người chúng ta làm điều đó, Ngài muốn chúng ta sống như vậy, vì đó là con đường dẫn ta đến bình an, đến sự hoàn thiện đích thực của mình. Cuộc sống của ta là một cuộc hành hương tìm về Đấng Tạo Hóa. Những gì được ban cho ta là phương tiện giúp ta thực hiện lộ trình này. Bởi thế, ta được sinh ta là để chia sẻ với Tạo Hóa niềm hạnh phúc viên mãn của Ngài. Đó là một lời mời gọi cao quý dành cho hết thảy chúng ta.
Bấy lâu nay, chúng ta có đủ ý thức về điều này không?

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nguồn: Dongten.net

Đức tin nơi người tu sĩ

06:02 |
Đi tu làđức tin nơi người tu sĩ một hành trình liên lỉ để nên giống Đức Giêsu Kitô và hơn bao giờ hết, hành trình ấy cần dựa trên một nền tảng đức tin vững mạnh. Ta không thể đi theo một ai đó, nếu ta không tin vào những gì người ấy nói, hay sâu đậm hơn, không tin vào chính người ấy. Đã hẳn niềm tin là điều cốt yếu của mọi Kitô hữu, nhưng với người tu sĩ, các chiều kích của niềm tin càng đòi hỏi ở một mức độ mãnh liệt hơn, cứng cáp hơn và trưởng thành hơn. Trên con đường dâng hiến, tu sĩ được gọi mời dấn bước trong niềm xác tín vào tay Chúa dẫn đưa. Có như thế, họ mới dám lao mình về phía trước để hiến thân phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người.
Người tu sĩ cảm nghiệm được sức sống của hạt mầm đức tin ngay khi lời mời gọi “hãy theo Thầy” vang lên trong tâm hồn. Lời mời gọi ấy vô thanh vô sắc, không thể nhìn bằng mắt, nghe bằng tai, không thể được kiểm chứng bằng máy móc. Làm sao người tu sĩ có thể xác tín là có một tiếng gọi như thế vang vọng đến mình, nếu họ không có niềm tin? Họ tin là mình được mời gọi. Họ tin là có một Đấng đang ngỏ lời với mình. Họ tin rằng Đấng ấy là Đấng đáng cho mình hy sinh tất cả để đi theo. Họ tin là khi theo Đấng ấy, mình chẳng mất mát gì nhưng còn được lợi gấp trăm triệu lần. Họ tin đến độ, dù phải đối diện với bao nhiêu thử thách, họ vẫn không nghĩ là mình sai.
Từ đó, họ đi tìm, lần theo và xác tín vào tiếng gọi của Thầy Giêsu, một tiếng gọi có sức xoay chiều cuộc đời mình, để rẽ vào linh đạo dâng hiến. Ở đó, hạt mầm đức tin gặp được mảnh đất màu mỡ là tình yêu thương của Chúa, được tưới gội bằng làn mưa ân sủng từ trời cao, bắt đầu mọc lên những chồi non tươi tốt. Ngày từng ngày sống với Chúa, người tu sĩ càng xác tín hơn về những gì mình tin. Niềm tin ấy cứ vươn cao vươn mạnh, bất chấp bao cuồng phong kéo đến làm nó ngã nghiêng. Cho đến khi niềm tin ấy đạt đến một độ chín mùi cần thiết, người tu sĩ hân hoan cất lên lời tuyên khấn thuộc trọn về Chúa. Đó là hoa trái ngọt ngào của đức tin mà Thiên Chúa ban tặng cho họ thuở nào. Như vậy, càng xác tín vào tiếng gọi mời của Thầy Giêsu, người tu sĩ càng đủ sức để trọn vẹn dâng cả đời mình cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Cùng với niềm tin vào Thiên Chúa, hành trình hiến dâng của người tu sĩ cũng đi kèm với lòng trông cậy và tình mến yêu dành cho Ngài. Ai đã tin thì chất chứa hy vọng. Ai có thể hy vọng là vì họ có tình yêu. Tin vào lời mời gọi, người tu sĩ cất bước theo Giêsu. Hành trình đi theo ấy tuy lắm gian nan, nhưng không sao làm người tu sĩ chùn bước, vì lòng họ lúc nào cũng nuôi dưỡng một niềm hy vọng lớn lao vào ngày mai. Ngày mai ấy là ngày mà cánh đồng trổ bông nặng hạt, được gánh về với niềm hớn hở vui ca. Ngày mai ấy là ngày mà khắp nơi chẳng còn tiếng khóc than hay buồn phiền ai oán, nhưng chỉ là tiếng cười của ngày gặt bội thu. Ngày mai ấy, người tu sĩ sẽ cùng với Giêsu trở nên một với nhau, có một tình yêu sâu đậm nối kết mà không một thế lực nào, dù mạnh mẽ đến đâu, có thể ngăn chia được. Vì tình yêu ấy, họ sẵn sàng từ bỏ để hiến dâng, bước vào con đường thập giá, trở nên ngu dại và điên rồ vì yêu như Đấng mà mình yêu mến. Càng tin, càng hy vọng, tu sĩ càng nồng cháy lửa yêu để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Bằng một tình yêu và đức tin cá vị, tu sĩ sống trong sự hiện diện cụ thể của Thầy Giêsu. Họ trở nên những con người đáng tin và thật gần gũi. Một tu sĩ thánh thiện thì không lừa lọc ai, cũng chẳng bội tín hay vô ơn với người nào. Với một cuộc sống đơn sơ và giản dị, họ chan hòa với thế giới và được tha nhân mến thương. Họ không thích sự xa hoa lộng lẫy, hay chẳng mong quyền lực chức cao. Đã có được Giêsu, họ xem tất cả những điều này như cỏ rác. Điều mà họ mong mỏi là ngày càng trở nên giống hình ảnh một Giêsu rất mực yêu thương đàn chiên và sống chết cho đàn chiên ấy. Chính Tin Cậy Mến đã giúp cho người tu sĩ hiện thực hóa được điều này.
Trở thành một dấu chứng khả tín về thực tại Nước Trời, người đi tu không thể bị đóng khung nơi khuôn viên nhà dòng. Cho dẫu sống đời chiêm niệm, cả đời sống trong dòng kín, người tu sĩ vẫn phục vụ Giáo Hội bằng những lời cầu nguyện tán dương Thiên Chúa thay cho nhân thế. Lời nguyện cầu của họ cũng có thể bay xa đến tận chân trời góc bể, thấm sâu vào lòng Giáo Hội và chạm đến được từng phận người. Nhờ đó, họ nên men muối ướp mặn thế trần. Người tu sĩ nào cũng phải mang trong mình tâm thức “loan báo Tin Mừng”, mà loan báo Tin Mừng cũng là làm lan truyền lòng tin cậy mến mà họ ấp ủ trong tim. Như lời Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Đức tin của người tu sĩ không phải là một đức tin của phòng thí nghiệm, nhưng là đức tin đang trong hành trình”, tu sĩ được sai đi để loan báo Tin mừng của Vua Hằng Sống, làm men muối gọi mời tin yêu.
Lạy Chúa Giêsu, trong năm Đời Sống Thánh Hiến này, chúng con thiết tha xin Ngài ban thêm niềm tin cho từng tu sĩ, sưởi ấm con tim của họ, giúp họ luôn tín trung và yêu mến Ngài đến cùng. Cho dù phải xông pha nơi biên thuỳ nguy hiểm, nhưng với đức tín son sắt, yêu mến nồng nàn và cậy trông vững vàng, các tu sĩ có thể nên giống Chúa Giêsu trong hành trình dâng hiến.
Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.
Nguồn: Dongten.net

Niềm vui của chúng ta là chính Đức Giê-su

15:23 |
VATICAN. Trưa ngày Chúa nhật 14.12.2014, như thường lệ, ĐTC đã đọc kinh Truyền Tin vào lúc 12h trưa trước sự hiện diện của vài chục ngàn khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô. Trong bài giảng, ĐTC nhắn nhủ mọi người hãy đón nhận Đức Giêsu vì Ngài là niềm vui sẽ đến với mọi gia đình. 
Sau đây là nguyên văn bài giảng của ĐTC, ngài nói: 
“Anh chị em và các con rất thân mến.
Hai tuần của Mùa Vọng vừa qua đã mời gọi chúng ta phải tỉnh thức thiêng liêng để dọn đường cho Chúa đến. Trong Chúa Nhật thứ ba của Mùa Vọng này, phụng vụ kêu mời chúng ta hãy có một thái độ nội tâm khác để đón chờ Chúa đến, đó là niềm vui. Niềm vui của Đức Giêsu được gói gọn trong câu nói: “Cùng với Đức Giêsu niềm vui sẽ đến nhà”.
Trái tim của con người luôn khao khát sự hân hoan. Tất cả chúng ta đều khao khát niềm vui, mỗi gia đình, mỗi dân tộc luôn cầu mong được hạnh phúc. Nhưng đâu là sự vui mừng mà Kitô hữu được kêu gọi để sống và minh chứng? Đó là niềm vui được ở gần bên Chúa, được sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Kể từ lúc Đức Giêsu bước vào trong lịch sử, với sự giáng sinh của Ngài nơi Bê-lem, nhân loại đã nhận lãnh hạt mầm của Nước Chúa, hệt như mảnh đất đón nhận hạt giống, hứa hẹn sẽ thu hoạch trong tương lai. Chẳng cần phải tìm kiếm nơi nào khác! Đức Giêsu đã đến để mang lại niềm vui cho tất cả mọi người và mọi thời. Đó không phải là niềm vui chỉ hy vọng có được nơi thiên đàng bởi vì nơi đây trên mặt đất này chúng ta sầu muộn nhưng trên thiên đàng chúng ta sẽ hoan hỷ. Không, không! Không phải niềm vui như thế, nhưng là niềm vui đã hiện thực hóa và được cảm nghiệm ngay bây giờ, bởi vì chính Đức Giêsu là niềm vui, và nhà chúng ta có Đức Giêsu thì sẽ có niềm vui. Một điều khác là: “Nếu không có Đức Giêsu có niềm vui không? Không! Ngài là Đấng Phục Sinh, đang sống và lao tác trong và giữa chúng ta một cách đặc biệt nơi Lời Chúa và các Bí tích. 
Tất cả chúng ta đã được rửa tội, là con cái của Giáo Hội, chúng ta được kêu gọi để thường xuyên nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta, để giúp đỡ tha nhân khám phá hay tái khám phá ra Ngài nếu như họ đã lỡ quên lãng. Đó là một sứ mạng cao đẹp, giống như của Gioan Tiền Hô vậy: hướng dẫn con người đến với Đức Kitô- chứ không đến với chính bản thân chúng ta!- bởi vì Người là đích điểm mà trái tim con người hướng đến khi tìm kiếm niềm vui và hạnh phúc. 
Thánh Phao lô, trong phụng vụ hôm nay, đề cập đến những điều kiện để trở nên “sứ giả của niềm vui”: hãy cầu nguyện không ngừng, tạ ơn Chúa luôn luôn, hãy chiều theo Thánh Linh, tìm kiếm điều lành và tránh xa điều dữ (1 Tx 5, 17-22). Nếu điều này trở thành lối sống của chúng ta, thì Tin Mừng có thể thấm nhập vào mọi nhà và giúp đỡ con người cũng như gia đình tái khám phá rằng thực sự có ơn cứu độ nơi Đức Kitô. Trong Ngài, người ta có thể tìm thấy sự bình an nội tâm và trợ lực để đương đầu mỗi ngày với những trạng huống khác nhau trong cuộc sống, thậm chí đó là những hoàn cảnh khó khăn và nặng nề nhất. Người ta chưa bao giờ nghe nói đến một vị thánh buồn hay là một vị thánh với gương mặt thiểu não. Người ta chưa bao giờ nghe nói đến điều đó! Đó sẽ là một sự vô lý. Một Kitô hữu là một người có con tim đầy bình an bởi vì người đó biết đặt để niềm vui của mình nơi Thiên Chúa thậm chí cả khi phải trải qua những thời khắc khó khăn trong cuộc sống. Có đức tin không có nghĩa là sẽ không gặp phải những giây phút khó khăn nhưng là có sức mạnh để đương đầu với chúng với suy nghĩ rằng chúng ta không hề cô độc. Đây là bình an mà Thiên Chúa ban tặng cho con cái của Ngài.
Cùng hướng về Giáng Sinh đã cận kề, Giáo Hội mời gọi chúng ta làm chứng rằng Đức Giêsu không phải một nhân vật của quá khứ; Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa ngày nay vẫn tiếp tục chiếu sáng cho cuộc lữ hành của con người; những cử chỉ của Ngài – những Bí tích – là sự tỏ bày của lòng âu yếm, của sự an ủi và tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với từng con người. Nguyện xin Đức Trinh nữ Maria, “Nguồn vui của chúng ta”, luôn mang lại cho chúng ta những tin vui của Thiên Chúa, Đấng đến để giải thoát chúng ta khỏi mọi sự nô lệ, bên trong cũng như bên ngoài.”
Sau kinh Truyền Tin, ĐTC đã gửi lời chào đến tất cả khách hành hương đến từ Roma, từ nước Ý và từ nhiều nơi trên thế giới. ĐTC gửi lời chào những tín hữu Ba Lan và ngài hiệp thông một cách thiêng liêng với những ai hôm nay đã thắp lên “ngọn nến của Giáng Sinh” và tái khẳng định dấn thân cho đoàn kết, một cách đặc biệt, trong Năm Đức Ái được cử hành ở Ba Lan. 
Kế đến, ĐTC chào thăm nồng nhiệt những trẻ em đã đến để lãnh nhận phép lành, do Trung Tâm Diễn Thuyết của Roma tổ chức. ĐTC cám ơn vì sự hiện diện của các em và chúc mừng Giáng Sinh các em! Đồng thời, ĐTC nhắn nhủ các em khi cầu nguyện ở nhà, trước hang đá, hãy nhớ đến ngài, cũng như ngài hứa sẽ nhớ đến các em. Ngài nhắn nhủ rằng cầu nguyện là hơi thở của linh hồn: tìm những phút giây trong ngày để mở lòng với Chúa là rất quan trọng, thậm chí chỉ với những lời nguyện vắn gọn và đơn sơ của dân Chúa. Vì thế, ĐTC đã tạo một bất ngờ cho các em khi tặng cho tất cả trẻ em nơi quảng trường Thánh Phêrô: một cuốn sách nhỏ bỏ túi trong đó có một vài lời nguyện, cho những thời điểm khác nhau trong ngày và cho những hoàn cảnh khác nhau trong cuộc sống. Có vài người đã tự nguyện đóng góp những cuốn sách này. ĐTC nhắc nhở các em hãy lấy mỗi người một cuốn và luôn mang theo bên mình các em, như là trợ giúp để sống kết hiệp với Chúa suốt cả ngày. 
Buổi chiều cùng ngày, ĐTC đã đến thăm giáo xứ Thánh Giuse Aurelio ở Roma. ĐTC đến giáo xứ lúc 16h và chuyến viếng thăm của Ngài bắt đầu với cuộc gặp gỡ với trẻ em. Trong suốt cuộc gặp gỡ, ngài đã chia sẻ với các em kinh nghiệm của ngài trong cuộc gặp gỡ với Chúa Hài Đồng. Ngài nói về việc Rước lễ lần đầu của mình, cách đây 70 năm, vào ngày 08.10.1944. Sau đó, Ngài gặp gỡ cộng đoàn Nomadi, một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi. Ngài kêu gọi cộng đoàn này đừng đánh mất hy vọng bởi vì Đức Giêsu chính là niềm hy vọng. Sau đó, ĐTC đã gặp gỡ khoảng 60 bệnh nhân. Tiếp đến, ĐTC gặp gỡ các gia đình có con em được rửa tội trong năm vừa qua. Cuối cùng, ĐTC cử hành thánh lễ tại giáo xứ trước khi trở về Vatican lúc 20h cùng ngày.
Jos. Nguyễn Huy Mai
Nguồn: VietVatican

Tóm lược tin Giáo Hội tuần qua (06.12.14 – 12.12.14)

05:50 |
CÔNG BỐ SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA NHÂN NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI 2015
VATICAN. Hôm 10.12.2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp của ĐTC nhân ngày Hòa bình thế giới lần thứ 48, sẽ được cử hành ngày 01.01.2015 tới đây về đề tài: “Không còn là nô lệ nữa, nhưng là anh em”. Sứ điệp gồm 2 phần: phần đầu ĐTC nói về bao nhiêu khía cạnh của nạn nô lệ trong quá khứ và ngày nay, và nhắc đến những nguyên nhân sâu xa của chúng. Trong phần thứ II ngài khuyến khích tìm ra những giải pháp chung để bài trừ nạn nô lệ mà ngài gọi “hiện tượng đáng kinh tởm”. Phần thứ I mang tựa đề “những khuôn mặt và nguyên nhân của nạn nô lệ”, trong đó ĐTC nhận xét rằng mặc dù tệ nạn nô lệ đã được chính thức bãi bỏ trên thế giới, nhưng ngày nay hằng triệu người vẫn còn phải sống trong những điều kiện giống như nô lệ. Phần thứ II của Sứ điệp có tựa đề: Bài trừ nạn nô lệ như một sự dấn thân chung và hoàn cầu hóa tình huynh đệ.
GP 22QUỐC HỘI BA LAN TUYÊN BỐ NĂM THÁNH GIOAN PHAOLÔ 2
VARSAVA. Quốc Hội Ba Lan đã quyết định dành năm 2015 là năm tưởng niệm thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 nhân dịp kỷ niệm 10 năm Người qua đời và 1 năm phong hiển thánh. Nghị quyết của Quốc hội đã được thông qua hôm 05.12 vừa qua với 389 phiếu thuận, 4 phiếu chống và 5 phiếu trắng. Qua quyết định này, Quốc hội Ba Lan muốn đề cao sự đóng góp rất lớn của Đức Karol Wojtila cho sự sụp đổ của chế độ cộng sản vào tái sinh một nước Ba Lan tự do và độc lập, đồng thời quốc hội cũng chào mừng sự dân thân của thánh nhân cho phẩm giá và các quyền con người. Chương trình mừng kỷ niệm chính thức chưa được xác định. Năm tới đây Ba Lan cũng kỷ niệm cha Jan Dlogosz sinh năm 1415 và qua đời năm 1480, một nhà ngoại giao, sử gia và là tác giả nhà hát ở thành Cracovia.
ĐTC KÊU GỌI GIẢI TRỪ VÕ KHÍ HẠT NHÂN
VIENNE. ĐTC Phanxicô kêu gọi các vị lãnh đạo thế giới, những người dấn thân hoạt động và các tín hữu liên kết với nhau để giải thoát thế giới khỏi đe dọa của vũ khí hạt nhân. Lời kêu gọi của ĐTC đã được Đức TGM Silvano Tomasi, Trưởng phái đoàn Tòa Thánh tuyên đọc hôm 08.12 vừa qua trong buổi khai mạc hội nghị quốc tế ở Vienne, thủ đô Áo, về ảnh hưởng của các võ khí hạt nhân về mặt nhân đạo. Tham dự hội nghị hai ngày này có các đại diện của hơn 150 quốc gia. ĐTC khẳng định rằng các nước có võ khí hạt nhân cần đi xa hơn lý tưởng bãi bỏ các võ khí này như được nhấn mạnh trong hiệp ước quốc tế về cam kết không làm lan tràn võ khí hạt nhân, và đề ra một bước tiến khác để đạt tới mục tiêu này. ĐTC cũng khuyến khích các cuộc đối thoại công khai giữa các nước có võ khí hạt nhân và những nước không có loại võ khí này.
PHO TE MONG COPHÓ TẾ ĐẦU TIÊN NGƯỜI MÔNG CỔ
SÉUL. Giáo Hội Công Giáo tại Mông cổ sắp có một phó tế đầu tiên người Mông Cổ, đó là thầy Joseph Enkh Baatar, được thụ phong ngày 11.12 vừa qua và thuộc Phủ doãn tông tòa Ulan Bator. Thầy Baatar năm nay 23 tuổi, đang theo học tại Hàn Quốc, và sẽ trở thành linh mục bản xứ Mông cổ đầu tiên. Hiện nay Giáo Hội Công Giáo tại nước này có hơn 80 thừa sai nam nữ thuộc 22 quốc tịch khác nhau, trong đó có 3 tu sĩ dòng Don Bosco người Việt. Theo thông kê mới nhất, Giáo Hội Công Giáo tại Mông cổ chiếm 2% trong tổng số 2 triệu dân cư toàn quốc và dưới sự coi sóc của Đức Cha Wenceslao Padilla, người Philippines, thuộc dòng thừa sai Khiết Tâm Đức Mẹ, quen gọi là các cha dòng Scheute. Việc truyền chức cho thầy Bataar cũng có hậu quả thực tiễn và cho phép Giáo Hội được quyền thủ đắc các bất động sản.
pope-francis-sri-lanka-logoSRI LANKA CHUẨN BỊ ÂN XÁ TÙ NHÂN
COLOMBO. Chính phủ Sri Lanka chuẩn bị ân xá cho một số tù nhân nhân dịp cuộc viếng thăm của ĐTC Phanxicô tại nước này từ ngày 13 đến 15.01 năm tới. Theo tin được phổ biến trên lankasrinews.com hôm 06.12 vừa qua, Bộ trưởng tư pháp Chandrasiri Gajadeera đã yêu cầu ban giám đốc nhà tù lập danh sách các tù nhân già yếu bệnh tật và có hạnh kiểm tốt để đệ trình lên thủ tướng Mahinda Rajapaksa để xin phê chuẩn việc ân xá. Mặt khác, mặc dù có sự yêu cầu của Giáo Hội Công Giáo Sri Lanka đừng lợi dụng cuộc viếng thăm của ĐGH vào mục tiêu tuyển cử, nhưng tổng thống nước này vẫn tuyên bố tổ chức tuyển cử vào ngày 08.01 tới đây, tức là 1 tuần trước cuộc viếng thăm của ĐTC và có treo các biểu ngữ tuyển cử thường có hình thủ tướng Rajapaksa hoặc các chính trị gia khác thuộc đảng của ông chụp hình chung với ĐTC.
TONG QUYEN DONG TENBỀ TRÊN TỔNG QUYỀN DÒNG TÊN TRIỆU TẬP TỔNG HỘI
ROMA. Tổng Hội Dòng Tên để bầu Bề trên Tổng quyền mới sẽ bắt đầu từ ngày 02.10.2016. Hồi tháng 5 năm nay, Cha Bề trên Tổng quyền Adolfo Nicolas, người Tây Ban Nha, loan báo sẽ từ nhiệm vào khoảng cuối năm 2016 khi tròn 80 tuổi. Hôm 09.12 vừa qua, cha đã gửi thư cho toàn dòng để loan báo ngày khai mạc Tổng Hội của Dòng, và cho biết ĐTC Phanxicô bày tỏ hy vọng các tu sĩ Dòng Tên có thể tái khám phá niềm vui của đời thánh hiến, khám phá chứng tá ngôn sứ của họ để thức tỉnh thế giới, và thực sự trở thành những chuyên gia về tình hiệp thông, cũng như ra khỏi chính mình để đi tới các khi ngoại ô của cuộc sống. Cha Bề trên tổng quyền cũng cho biết các Bề trên giám tỉnh và các Bề trên khác của Dòng Tên sẽ nhóm họp trước ngày 31.7.2015 để chuẩn bị cho Tổng Hội năm 2016.
SONY DSCCÁC VỊ LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO LÊN ÁN NẠN TRA TẤN CỦA MỸ
WASHINGTON. Chủ tịch ủy ban GM Mỹ về công lý và hòa bình quốc tế, Đức cha Oscar Cantú, lên án những vụ tra tấn như được trình bày trong phúc trình của ủy ban thượng viện Mỹ mới được công bố. Đức Cha Oscar Cantú, cũng là GM giáo phận Las Cruces, bang New Mexico, gọi những vụ tra tấn như thế là vi phạm phẩm giá Chúa ban cho con người, đây là phẩm giá nội tại của tất cả mọi người, và tra tấn như thế hoàn toàn là điều sai trái. Đức cha cùng với nhiều vị lãnh đạo tôn giáo khác lên án việc sử dụng tra tấn do cơ quan tình báo CIA của Mỹ thường thực hiện, sau khi 500 trang phúc trình được Tiểu ban Thượng viện về tình báo công bố hôm 09.12 vừa qua. Tiểu ban tình báo của Thượng viện Mỹ bắt đầu điều tra về sự đối xử của cơ quan CIA đối với những người bị bắt giữ trong cái gọi là cuộc chiến tranh chống khủng bố cách đây 6 năm.
mejiacardĐHY MEJIA QUA ĐỜI
VATICAN. ĐHY Jorge Maria Mejia, người Argentina, chuyên gia Công đồng, và là người lãnh đạo lâu năm trong cuộc đối thoại giữa Công Giáo và Do thái giáo, đã qua đời hôm 08.12 vừa qua, hưởng thọ 91 tuổi. ĐTC Phanxicô đã đến nhà thương để thăm ĐHY 2 ngày sau khi được bầu làm giáo hoàng hồi tháng 3 năm 2013. Ngày 16.11 vừa qua, trên đường đi tới dinh thự Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, ĐTC cũng dừng lại tại nhà thương để thăm ĐHY, người bạn lâu năm của ngài. ĐHY Mejia đã từng làm Tổng thư ký ủy ban Tòa Thánh liên lạc với Do thái giáo và đã tổ chức cuộc viếng thăm lịch sử của ĐGH Gioan Phaolô 2 ở Hội đường Do thái ở Roma hồi năm 1986. Sau đó ngài làm GM Phó Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh công lý và hòa bình, trước khi làm TGM Tổng thư ký Bộ GM. Từ năm 1998 cho đến khi về hưu năm 2003, ngài làm thư viện trưởng của Tòa Thánh.
VATICAN VÀ TRUNG QUỐC TĂNG CƯỜNG CỘNG TÁC VĂN HÓA
VATICAN. Vatican và Trung Quốc tăng cường sự cộng tác với nhau về văn hóa. Trong một bài đăng trên báo “Quan sát viên Roma” số ra ngày 06.­12 vừa qua, Đức TGM Jean Louis Bruguès, Thư viện trưởng của Tòa Thánh, cho biết chính phủ Bắc Kinh và thư viện này dự tính tổ chức một cuộc triển lãm chung vào năm 2017 tới đây các thủ bản cổ bằng tiếng Hoa. Hiện nay tại thư viện Vatican có giữ 1.200 thủ bản cổ bằng tiếng Hoa từ những năm đầu tiên của Thanh triều (1644-1911), tức là từ năm 1644. Các thủ bản này từ 3 năm nay được biến thành dạng kỹ thuật số. Dự án này do Trung Quốc tài trợ. Tuy nhiên Tòa Thánh đặt điều kiện các thủ bản này được trưng bày tại Bắc Kinh và các thành phố đại học khác ở Trung Quôc, với tựa đề: “Thư viện của Hội Thánh Roma”.
hyĐỨC THÁNH CHA SẼ TẤN PHONG HỒNG Y MỚI
VATICAN. ĐTC sẽ triệu tập công nghị Hồng Y trong hai ngày 14 và 15.02.2015, và ngài sẽ tấn phong các Hồng Y mới. Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, cho biết như trên trong cuộc họp báo trưa ngày 11.12 vừa qua, để trình bày về khóa họp ba ngày của Hội đồng 9 Hồng Y cố vấn của ĐTC vừa kết thúc ban chiều cùng ngày. Việc chọn và bổ nhiệm các Hồng Y mới là điều hoàn toàn tùy thuộc ĐTC. Thông thường ngài tuyên bố danh tánh các tiến chức một tháng trước khi nhóm công nghị bổ nhiệm. Nếu ĐTC tôn trọng quy luật tối đa 120 HY cử tri dưới 80 tuổi, thì có thể ngài sẽ bổ nhiệm 10 HY mới. Hiện nay, Hồng y đoàn có 208 vị, trong đó có 112 vị dưới 80 tuổi. Ngày 20.12 sắp tới, ĐHY Julius Darmaatmadja, nguyên TGM Jakarta Indonesia sẽ tròn 80 tuổi, và ngày 03.01 năm tới, ĐHY Giovanni Lajolo, nguyên thống đốc thành Vatican, cũng tròn 80 tuổi.
Tổng hợp và biên tập: Jos. Nguyễn Tiến Khải, SJ
Nguồn: Dongten.net