Sứ Điệp Fatima

15:10 |
Cũng như Lộ Đức, Fatima là trung tâm hành hương Đức Mẹ nổi tiếng trên thế giới. Tại làng Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra nhiều lần với ba trẻ chăn chiên Lucia, Phanxicô và Gianxita. Thời gian này đang xảy ra chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Các nước Châu Âu kinh hoàng và kiệt quệ vì chiến tranh. Giữa bối cảnh đau thương đó, Đức Mẹ đã đến thăm và can thiệp. Sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi đầu tiên qua ba trẻ là: “Các con hãy cầu nguyện! Hãy cầu nguyện thật nhiều!.Ngày 19-8-1917, Đức Mẹ đề nghị: “Hãy hy sinh nhiều để xin ơn tha thứ cho các tội nhân. Có rất nhiều linh hồn đang sa xuống hỏa ngục, vì không có ai hy sinh đền tội và cầu nguyện cho họ”.Mỗi ngày 13, từ tháng 5 đến tháng 10, Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ. Người đến cầu nguyện mỗi ngày một đông hơn. Đức Mẹ hiện ra lần cuối cùng vào ngày 13-10-1917, và có một phép lạ hùng vĩ xảy ra như chính Mẹ đã hứa trước đó: trước đám đông hơn 70 ngàn người, mặt trời nhảy múa trên không trung. Những người có mặt lúc đầu lo sợ vì họ nghĩ ngày tận thế đã đến, sau đó họ vui mừng và quỳ gối lần hạt, nhiều người ăn năn khóc lóc sám hối tội lỗi của mình.
Từ Fatima, Đức Mẹ đã truyền đi thông điệp cho cả thế giới, như một điều kiện khẩn thiết để thế giới được Hòa bình: “Hãy siêng năng lần hạt; hãy cải thiện đời sống; hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ”.
Chiến tranh thế giới kết thúc vào tháng 11-1918. Người ta tin chắc đó là do quyền năng của Đức Mẹ. Đất nước Bồ Đào Nha và Châu Âu được Hòa bình. Fatima từ đó đã trở nên trung tâm hành hương quốc tế, mỗi ngày đón tiếp hàng ngàn tín hữu đến cầu nguyện.
Đức Giáo Hoàng Piô XI đã dâng cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Năm 1942, Đức Giáo Hoàng Piô XII một lần nữa dâng thế giới cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã trao phó gia đình nhân loại cho Đức Mẹ sau ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II (1964) và một lần nữa ngài dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.
Ngày 13-5-1982, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới linh địa Fatima để tạ ơn Đức Mẹ (sau 1 năm ngài bị ám sát tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13-5-1981). Ngài tin mình sống sót nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Mẹ Vô Nhiễm. Chính Ali Agca, kẻ bắn Đức Thánh Cha, một tay bắn súng thiện xạ, cũng hết sức ngạc nhiên, không thể hiểu được vì sao ngài không chết. Sự kiện lạ thường ngoài sức tưởng tượng này đã xảy ra đúng vào ngày kính nhớ Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ Phanxicô, Giacinta va Lucia ở Fatima, khiến Đức Thánh Cha nghĩ ngay đến Người Mẹ trên trời dấu yêu. Đức Thánh Cha kết luận: “Một người bắn, nhưng một người khác hướng dẫn đường đạn”. Và Đức Thánh Cha thêm: “Đức Mẹ Maria đã cứu sống tôi”. Do lòng biết ơn Đức Mẹ Fatima, kể từ sau ngày bị nạn, Đức Thánh Cha đã có nhiều nghĩa cử thánh thiện nhằm tôn vinh và tạ ơn Đức Mẹ. Chẳng hạn, ngày 13.5.1982, Đức Thánh Cha đã hành hương Fatima và đặt lên chiếc triều thiên của tượng Đức Mẹ tại đền thánh Fatima viên đạn lấy ra từ thân thể, như một lời khẳng định với thế giới rằng, Đức Mẹ đã che chở ngài.Tiến xa hơn nữa, trong nghĩa cử tỏ lộ lờng yêu mến Nữ Vương Fatima, đó là cuộc hành hương đền thánh Fatima dịp phong Á Thánh cho hai thánh trẻ Phanxicô và Giacinta năm 2000, cũng vào ngày 13-5, Đức Thánh Cha đã đặt dưới chân tượng Đức Mẹ Fatima chiếc nhẫn Giám mục quý giá do Đức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski, Tổng Giám Mục Kracow dâng tặng lúc Đức Thánh Cha được bầu làm Giáo hoàng ngày 16-10-1978. Năm 2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố ngày 13-5 hàng năm sẽ trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Fatima. Chưa hết, để diễn tả lòng yêu mến Đức Mẹ thẳm sâu của mình, Đức Thánh Cha đã viết tông thư “Kinh Mân Côi kính Đức Trinh Nữ Maria” và thêm vào chuỗi Mân Côi truyền thống mầu nhiệm Năm Sự Sáng. Ngài cũng công bố năm 2003 là Năm Thánh Mẫu Mân Côi, nhằm cổ súy việc đọc kinh truyền thống này để tôn vinh mầu nhiệm Mân Côi và các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu Thế. Qua đó, Đức Thánh Cha khuyên dạy các tín hữu hãy yêu mến, hãy chú trọng nhiều đến chuỗi Mân Côi trong đời sống Kitô hữu của mình, hãy chuyên chăm cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã dâng hiến triều đại Giáo Hoàng của mình cho Đức Mẹ Fatima vào ngày 13-5-2013. Ngài đã hai lần yêu cầu Đức Hồng Y José da Cruz Policarpo, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Bồ Đào Nha dâng hiến sứ mệnh theo Thánh Phêrô của ngài lên Đức Mẹ Fatima.
Năm 2013, kỷ niệm 96 năm Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ mục đồng. Đây cũng là cơ hội để dâng hiến những ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Rio de Janeiro (23-28 tháng7) lên Đức Mẹ Fatima. Đức Tổng Giám Mục Tempesta đã tuyên bố về việc dâng hiến này trong một lá thư gửi cho Tổng Giáo Phận của ngài vào ngày 3 tháng 5 vừa qua: đó là “dâng hiến tất cả những ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, tất cả giới trẻ, những cộng sự viên và ban tổ chức” lên Mẹ Maria, để Mẹ dạy cho họ biết “xin vâng với Chúa Kitô, và sứ mệnh của tình yêu và sự cứu chuộc của Người”.
Những Đền thánh, Quảng trường, Nhà thờ, Nhà nguyện …và bao công trình khác được xây dựng tại Fatima. Trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima lôi cuốn khách thập phương đến cầu nguyện mỗi ngày một thêm đông.
1.     Nguồn gốc của từ Fatima
Tên Fatima có nguồn gốc từ tiếng Ả rập. Đó là tên của một công chúa xứ Ả rập. Cô Fatima bị quân Công giáo bắt làm con tin trong thời gian người Moro chiếm đóng Bồ Đào Nha. Sau đó, cô trở thành vị hôn thê của Bá tước Ourém. Cô đã trở lại đạo và lãnh nhận Bí tích Rửa tội trước khi thành hôn với Bá tước này vào năm 1158. Cô lấy tên là Oureana (Oriane), tên của thành phố Ourém ngày nay phát xuất từ chữ Oureana.
Làng Fatima nhỏ bé ngày xưa nay đã trở thành thị trấn sầm uất và là linh địa thuộc thành phố Ourém trong quận Santarém.
2.     Đôi nét lịch sử
Năm 1917, Fatima là miền quê gồm khoảng 2.500 người cư ngụ rải rác trong khoảng 40 thôn xóm. Dân lao động làm ruộng nương rẫy. Trẻ em thường chăn dắt bờ, dê, cừu ...Phần lớn dân cư đều mù chữ, chỉ có khoảng 10% phụ nữ biết đọc, biết viết.
Các gia đình Dos Santos và Marto cư ngụ trong thôn Aljustrel, đây là một trong những thôn xóm xưa nhất của xứ đạo Fatima. Vào đầu thế kỷ XX, Aljustrel là một nơi chỉ có 25 gia đình sinh sống với khoảng 100 cư dân, làm nghề nông và chăn cừu, phần lớn mù chữ.  Họ kiếm sống ở vùng đất khô cằn bằng cần cù làm việc. Ban tối cả gia đình quây quần bên lờ sưởi dùng bữa và tạ ơn Chúa. Cuộc sống của dân quê chất phác. Gia đình Dos Santos có 1 bé gái, sinh ngày 22-3-1907. Gia đình người em họ Marto có 1 con trai là Francisco Marto, sinh ngày 11-6-1908 và 1 con gái là Jacinta Marto, sinh 11-3-1910. Ba em bé này thường chăn dắt đàn cừu tại bãi cỏ “Cova de iria” cách thôn chừng 2 km.
Vào ngày đầu tiên của năm 1916, trời mưa lớn, ba em nhỏ là Lucia 9 tuổi, và hai người em họ là Phanxicô 8 tuổi và Giaxinta 6 tuổi đang trú mưa tại một hang. Bỗng nhiên, một vầng sáng trắng xuất hiện trên đồng cỏ. Các em sửng sờ khi thấy một thanh niên trẻ đẹp trong y phục màu trắng đứng giữa vầng sáng. Người thanh niên trong vầng sáng ấy nói với các em rằng: "Ðừng sợ, ta là sứ thần Hòa bình. Hãy cùng ta cầu nguyện". Ðoạn người quỳ xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, con tin kính, con thờ lạy, con trông cậy và con yêu mến Chúa. Xin Chúa tha thứ cho những kẻ đã không tin kính, không thờ lạy, không trông cậy và không yêu mến Chúa". Thiên Thần lại cúi đầu sâu hơn, và cầu nguyện ba lần như vậy, các em cũng lập lại lời cầu nguyện này với Thiên Thần.
Rồi vào một ngày mùa hè, đang khi các em vui đùa, Thiên Thần lại hiện ra với các em và bảo: "Hãy cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều. Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Mẹ Maria đã dành cho chúng con đầy lờng thương xót. Hãy tiếp tục dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện và những hãm mình. Hãy biến mọi việc làm thành những hy sinh dâng lên Thiên Chúa để đền bù tội lỗi đã xúc phạm đến Người, và cầu cho kẻ có tội ăn năn trở lại. Bằng phương thế này, Hòa bình sẽ đến với quê hương các con ... Ta là Thiên Thần bản mệnh của nước Bồ Ðào Nha. Hãy đón nhận và vui lòng chịu đựng mọi thử thách Chúa sẽ gửi đến cho các con .". Mùa thu năm ấy, Thiên Thần lại hiện đến cùng các em. Trong lần hiện ra thứ ba này các em thấy Thiên Thần một tay bưng một chén Thánh, một tay cầm Mình Thánh Chúa, các em đã nhìn thấy những giọt máu nhỏ xuống chén thánh. Ðể chén thánh và Mình Thánh Chúa lơ lửng trên không trung, Thiên Thần cung kính quỳ xuống đất và cầu nguyện: "Lạy Ba Ngôi Cực Thánh - Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần - con cung kính thờ lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa mình và máu thánh cực trọng, linh hồn và bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô đang ngự trong các nhà chầu trên khắp hoàn cầu để đền tạ vì những tội bội bạc, thờ ơ, xúc phạm đến Người. Cậy vì công nghiệp vô cùng của Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria, xin Chúa cho kẻ có tội được ăn năn trở lại .".
Sau hơn một năm, kể từ ngày Thiên Thần hiện ra lần đầu tiên cùng các em, vào ngày 13 tháng 5 năm 1917, Ðức Mẹ đã hiện ra cùng các em. Trong những tháng kế tiếp, ba trẻ trở lại đồi Cova da Iria theo lời dặn dờ của Đức Mẹ, bất chấp những khó khăn ngoại cảnh như thời tiết bất thuận lợi hay khó khăn tinh thần như sự ngờ vực và cấm đoán của cả chính quyền lẫn giáo quyền. Vượt qua tất cả, các em vui mừng và hy vọng tiến đến điểm hẹn, vừa đi vừa lần hạt, lờng khát mong gặp lại Đức Mẹ. Chính Đức Mẹ luôn tôn trọng lịch gặp gỡ với các em như đã hẹn trước là ngày 13 mỗi tháng (trừ tháng 8 các em bị nhốt), khích lệ, trờ chuyện, cầu nguyện, dạy dỗ, nâng đỡ, ủi an và mạc khải cho các em nhưng điều cần kíp do Đức Mẹ mong muốn hay hoàn cảnh đời buộc.
a.     Đức Mẹ hiện ra lần đầu 
Ngày 13-5-1917, vào lúc trưa, 1 bà mặc áo trắng tinh hiện ra với 3 em bé chăn cừu, nói với các em là hãy lần chuỗi đọc kinh Mân Côi hàng ngày để cầu nguyện cho thế giới chấm dứt chiến tranh, được Hòa bình. Trước khi biến đi, Bà bảo 3 em hãy trở lại nơi đây đúng giờ trưa ngày 13 tháng sau.
Giacinta quên giữ kín nên về nhà thuật lại sự việc cho cha mẹ nghe. Tin này loan truyền nhanh khắp làng. Mọi người tỏ ra không tin. Vị linh mục chính xứ hỏi Lucia, nhưng cũng không tin. Trong báo cáo gửi lên Đức Giám Mục  Giáo Phận Leiria, cha xứ viết: cần phải xa lánh chuyện này.
b.     Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai 
Ngày 13 tháng 6, đúng giờ trưa, 3 em lại tới nơi hẹn, theo sau có khoảng vài chục người tờ mờ đến xem sự thể ra sao. Mọi người lần chuỗi đọc kinh. Đức Mẹ hiện ra với 3 em, nhắc Lucia về tầm quan trọng của việc đọc kinh Mân Côi, đồng thời báo trước cái chết của 2 anh em Phanxicô và Gianxinta : “Ta sẽ sớm đưa Phanxicô và Gianxinta về trời, cờn con, con sẽ ở lại thế gian một thời gian. Chúa Giêsu muốn dùng con để loan truyền cho mọi người biết ta và yêu mến ta”. Đức Mẹ cũng yêu cầu Lucia học chữ để dễ loan báo lời Đức Mẹ cho các người khác. Những người đi theo không nhìn và nghe thấy gì. Họ chỉ nhìn thấy cành cây nhỏ nơi Đức Mẹ đứng trĩu xuống dưới một sức nặng, rồi đột nhiên bật lên khi Đức Mẹ biến đi.
c.     Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba 
Ngày thứ Sáu 13-7-1917, “bà mặc áo trắng” lại hiện ra với 3 em, có khoảng 4.000 người theo sau. Đức Mẹ vẫn nhắc Lucia việc đọc kinh Mân Côi mọi ngày, để chiến tranh mau chấm dứt. Lần này Đức Mẹ tiết lộ cho 3 em "bí mật" gọi là "bí mật Fatima". (Năm 1942, 2 bí mật đầu đã được công bố, cờn bí mật thứ 3 thì mãi tới năm 2000, Giáo hội mới công bố).
d.     Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư 
Ngày 10-8-1917, viên chánh tổng, một người chống đối hàng giáo sĩ đời 3 em tới để tra hỏi, nhưng không có kết quả. Ngày 13-8, ông ta nhốt 3 em vì làm rối loạn trật tự công cộng và tiếp tục tra hỏi, nhưng hoài công. Rốt cuộc, ngày 15-8, ông ta phải thả 3 em ra.
Tuy nhiên, ngày 13-8, có khoảng 18.000 người tới bãi chờ xem sự lạ, nhưng 3 em vắng mặt vì cờn bị nhốt. Chúa nhật 19-8, khi 3 em dẫn đàn cừu tới thả ở bãi Cova de iria, Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, yêu cầu các em nói với mọi người cầu nguyện cho những người tội lỗi mau thống hối và hứa sẽ làm 1 phép lạ cho mọi người tin.
e.     Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm 
Ngày 13-9, có khoảng 30.000 người tụ họp tại bãi Cova de iria, cầu nguyện cùng với 3 em. Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em và cho biết tháng sau, sẽ có Chúa, Đức Mẹ núi Carmêlô, thánh Giuse và Chúa Hài đồng Giêsu sẽ cùng tới.
f.       Đức Mẹ hiện ra lần thứ sáu 
Đây là bản sao chụp 1 trang của báo Ilustração Portugueza ngày 29-10-1917 cho thấy đám đông dân chúng đang ngẩng nhìn Phép lạ Mặt trời, khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.
Ngày 13-10-1917, mưa như trút nước trên bãi Cova da Iria. Một đám đông khoảng 70.000 người kể cả nhiều phóng viên chụp hình và các ký giả tụ tập tại đây lần chuỗi, đọc kinh cầu nguyện. Lúc giữa trưa, Đức Mẹ hiện ra với 3 em và tỏ cho các em biết, Bà chính là Đức Nữ Trinh Maria, Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Đức Mẹ mời gọi các em cầu nguyện, làm việc đền tạ và tiếp tục lần chuỗi mỗi ngày. Đức Mẹ cũng muốn người ta phải xây một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ tại đây. Đức Mẹ nhắc nhở thế giới, đừng xúc phạm đến Chúa nữa, Người đã bị xúc phạm quá nhiều.Đức Mẹ cũng loan báo thế chiến thứ nhất sẽ sớm chấm dứt và yêu cầu những kẻ có tội hãy mau sám hối. Khi Đức Mẹ về trời thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất hiện trên bầu trời xanh biếc. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào mặt trời và thấy mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu. Mặt trời dường như xuống thấp gần trái đất, khiến đám đông sợ hãi. Việc lạ xảy ra trong 10 phút, sau đó mọi sự trở lại bình thường. Hiện tượng này được hầu hết đám đông chứng kiến, và một số người ở cách đó mấy dặm cũng nhìn thấy.
Trong thời gian này, các nhà khoa học trên thế giới không hề ghi nhận 1 hiện tượng khác thường nào của mặt trời.
Trong khi đó, riêng 3 em nhìn thấy Thánh Gia, rồi Đức Mẹ Sầu Bi, Chúa Hài Đồng Giêsu và sau hết là Đức Mẹ núi Carmêlô lần lượt xuất hiện như đã hứa trước với 3 em.
Phanxicô và Giaxinta chết sớm trong đợt dịch cúm Tây ban nha. Phanxicô chết năm 1919. Jancinta chết năm 1920. Cả 2 em đã được  thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng đáng kính vào ngày 13-5-1989, được phong Chân Phước vào ngày 13-5-2000 và ĐTC Phanxicô phong thánh vào ngày 13.5.2017. Mộ của 2 thánh hiện nằm trong lòng Vương cung thánh đường Fatima.Còn Lucia vào tu viện dờng Dorothea ở Pontevedra (Galicia, Tây ban nha) ngày 24-10-1925, sau đó khấn lần đầu ở Tuy (Tây ban nha) năm 1928. Năm 1925 và 1929, Lucia lại được Đức Mẹ hiện ra với mình. Tháng 10-1934, Lucia khấn trọn và lấy tu danh là nữ tu Đức Mẹ Maria Sầu Bi.
Sau nhiều năm điều tra, Đức Giám Mục Da Silva, cai quản Giáo phận Leiria, trong thư mục vụ ngày 13.10.1930 đã công nhận sự kiện Đức Mẹ hiện ra với 3 em ở Fatima và chính thức cho phép việc tôn sùng Đức Mẹ Fatima. Theo lệnh hàng giáo phẩm, Lucia đã viết các hồi ký về sự kiện trên gồm 4 bản: 1 bản năm 1935, 1 bản năm 1937, 1 bản năm 1941 và 1 bản đầu năm 1942. (wikipedia).
Năm 1946, nhân kỷ niệm 300 năm ngày dâng nước Bồ Đào Nha cho Đức Trinh Nữ Maria, vị sứ thần tờa thánh Vatican là Hồng Y Masella đã đội (vương miện) triều thiên lên tượng Đức Mẹ Fatima, với sự tham gia chứng kiến của khoảng 600.000 tín hữu hành hương. Vương miện này do các phụ nữ Bồ Đào Nha cung hiến để cảm tạ Đức Mẹ đã gìn giữ Bồ Đào Nha trong cuộc thế chiến thứ nhất.
Từ năm 1948, Lucia vào tu trong đan viện dòng kín Carmêlô ở Coimbra (Bồ Đào Nha), dưới tên nữ tu Lucia Trái Tim Vô nhiễm nguyên tội. Lucia qua đời ngày 14-2-2005 ở tuổi 97. Thánh lễ an táng được cử hành vào ngày 16-2-2005 tại Vương cung thánh đường Coimra. Sau khi Lucia qua đời, đức Hồng Y Joseph RatzingerBộ Giáo Lý Đức Tin (sau này là Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI) cho niêm phong phòng của Lucia, có lẽ để điều tra trong tiến trình phong thánh cho Lucia.
3.     Nhà Thờ Chúa Ba Ngôi Cực Thánh
Đồng cỏ Cova da Iria ngày xưa nay trở thành quảng trường có tên Santuario. Đến Trung tâm mục vụ Centro Pastoral Paul VI với những lối đi bên hông. Trung tâm này cũng là  ngôi Nhà thờ rất lớn có tên là Most Holy Trinity Church (tiếng Bồ Đào Nha là: Santissima Trindade). Có khi người ta gọi đây là Most Holy Trinity Church khi thì  Paul VI Pastoral Centre.
Nhà thờ được ĐGH Bênêđictô XVI thánh hiến vào năm 2007, với chi phí 80 triệu Euro do khách hành hương dâng cúng. Viên đá đầu tiên được lấy từ mộ thánh Phêrô ở Roma.Trung tâm hay thánh đường là một tờa nhà hình khối trờn đường kính 125m, cao 18m, trần không có cột chống đỡ mà chỉ tựa vào 2 cây đà cực lớn nên trông rất rộng. Nội thất nhà thờ pha trộn kiểu đương đại, phục hưng và trung cổ, được chia làm hai ngăn bởi một bức tường di động cao 2m. Hướng dẫn viên cho biết Nhà thờ có 8,900 chỗ ngồi rộng thoải mái cùng với 76 chỗ cho người khuyết tật; cung thánh đủ chỗ cho100 vị đồng tế.Cửa chính nhìn ra quảng trường là 4 tấm bằng đồng cao 8 mét, mỗi tấm nặng 3,200kg với những hình ảnh kể về công cuộc tạo dựng nên trời đất. Mái cổng vào là những tấm lưới sắt mô tả cảnh thiên thần ca hát mời gọi hãy đến thờ phượng Chúa khi khách hành hương tiến vào nhà thờ. Kiến trúc sư là người Chính thống giáo Hy Lạp nên nhiều kiến trúc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Byzantine và Orthodox. Nhà thờ này có nét kiến trúc hiện đại tương tự như các Nhà thờ mới ở Rotoldo và Lộ Đức.

Nổi bật trên cung thánh là Chúa Giêsu trên cây Thánh giá rất lạ.Nữ điêu khắc gia người Anh không phải là Kitô hữu đã kết hợp ý tưởng văn hóa nhiều châu lục. Khuôn mặt Chúa Giêsu mang dáng vẻ Á Châu, đôi tay dáng Châu Mỹ, đôi chân dáng Châu Phi, gót chân dáng Châu Đại Dương và thân mình dáng Châu Âu. Bên trái bàn thờ có tượng Đức Mẹ Fatima màu trắng thanh thoát. Nổi bật trên bức phong cung thánh rộng 50m cao 10m bằng gạch terracota màu vàng kim phía sau Thánh giá là Con Chiên Thiên Đàng, hai bên với bức tranh nghệ thuật mosaic mạ vàng. Bên trái Đức Maria cùng với Phanxicô và Lucia và đông đảo chư thánh. Bên phải là thánh Gioan Tẩy Giả cùng với 12 Tông Đồ.
Trung tâm Mục vụ Phaolô VI được Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II khánh thành ngày 13-05-1982. Đây là trung tâm nghiên cứu và suy tư về Sứ điệp Fatima. Trung tâm có sức chứa 2.000 người và cho 400 khách hành hương trọ, và cũng có nhiều văn phờng mục vụ, nhiều nhà nguyện nhỏ, nhiều phờng giải tội và bảo tàng bên trong.Từ Trung tâm Mục vụ này, người ta kẻ một đường sơn đặc biệt rộng khoảng gần 1 mét kéo dài cho tới Nhà nguyện và lễ đài ngoài trời dài khoảng 500 mét dùng để cho khách hành hương đi bằng đầu gối cầu nguyện và sám hối. Phía bên trái trung tâm này là cây Thánh giá nghệ thuật được dựng nên kỷ niệm kết thúc Năm thánh 1951.
Cửa chính của Trung tâm mục vụ Phaolô VI hay Nhà thờ Chúa Ba Ngôi nằm thẳng đường với mặt tiền Vương cung Thánh đường Mân Côi tạo thành một tổng thể kiến trúc rộng và hài Hòa. Hai bên là những hàng cây lá xanh đậm tạo nên bức tường làm cho quảng trường thánh địa trở thành một khu vực biệt lập nhưng lại có thể dễ dàng ra vào ở mọi hướng. Hai bên quảng trường cũng có nhiều tượng các thánh, nhiều kiến trúc với những di tích và kỷ niệm các biến cố xã hội tôn giáo.
4.     Nguyện đường Hiện ra

Đây là một gian nhà nhỏ, mái phẳng, trần lộ thiên, hai bên bằng kính trắng, có nhiều cửa ra vào rộng rãi. Nhà nguyện rất đơn sơ không có khung cảnh đồ sộ hay mang nét huyền bí, nhưng đây lại là địa chỉ thật linh thiêng vì là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với 3 trẻ vào năm 1917.
Năm 1919, một nguyện đường nhỏ đã được xây tại đây. Đến ngày 13-10-1921, thánh lễ đầu tiên được cử hành tại nhà nguyện này. Đã có nhiều lần tu bổ, nhưng nguyện đường vẫn giữ hình dáng cũ cho đến ngày nay. Giữa nhà nguyện có bệ cao khoảng 1 mét  đặt tượng Đức Mẹ Fatima đầu đội triều thiên bằng vàng nặng 1,2 kg, gắn 313 viên ngọc trai và 2.679 viên đá quý. Sau này, Đức Giáo hoàng Gioan Phao-lô II đã gắn viên đạn đồng bắn vào ngài lên trên vương miện Đức Mẹ. Nguyện đường Hiện ra mở cửa suốt ngày đêm, chẳng thấy có an ninh canh gác, nhưng không một ai đến phá hoại hay trộm cắp những vật quý trên vương miện.
Bên trái nhà nguyện là những dãy nhà dành cho người hành hương đốt nến kính Đức Mẹ. Sát bên phải nhà nguyện có cây sồi xanh với tên gọi là Large “Azinheira” sống trên 100 năm. Cây dáng cổ thụ lá xanh thẫm. Chính ba trẻ chăn chiên đã nói rằng, trên cây này vào ngày 13-5-1917, các em thấy tia chớp sấm sét thứ hai xảy ra và sau đó Đức Mẹ hiện ra. Và cũng chính dưới tàn cây này mà ba trẻ cùng cầu nguyện với những người đi theo các em trong khi chờ Đức Mẹ hiện ra. Cây sồi này là cây duy nhất cờn lại. Năm 2007, Bộ Tài nguyên Lâm sản Bồ Đào Nha đã xếp cây này vào loại “cây có giá trị công ích”.Gần lối vào Đền Thánh phía nhà xứ là Đài tưởng niệm Bức tường Bá linh, chứa đựng 5,7323 pound mảnh tường Bá linh do một người di cư ở Bồ Đào Nha đến Đức sau khi Bức tường này bị sụp đổ vào năm 1989. Ông dâng kính mảnh tường này như là một sự tưởng niệm việc Thiên Chúa can thiệp như Đức Mẹ Fatima đã hứa.
5.     Vương cung Thánh Đường Mân Côi
Ba trẻ chăn chiên kể lại, Đức Mẹ hiện ra đã nói với các em : “Ta muốn xây nơi đây một nguyện đường để kính Ta, vì Ta là Đức Mẹ Mân Côi”. Vì vậy, thánh đường này cờn được gọi là “Basilica of Our Lady of Rosary”. Kiến trúc sư Hòa Lan Gerardus van Krieken vẽ bản nháp và Kiến trúc sư Joao Antunes đã hoàn tất.
Ngày 13-5-1928, Đức Tổng giám mục Manuel Santos làm phép đặt viên đá đầu tiên. Nhà thờ được thánh hiến vào tháng 10 năm 1953. Năm 1954, Đức Giáo Hoàng Piô XII nâng lên hàng vương cung thánh đường. 
Nhà thờ có nét kiến trúc tân cổ điển với một ngọn tháp trung tâm cao 65m. Mặt tiền có tượng Đức Mẹ Fatima cao 4,73m nặng 13.000kg nằm ở phần lõm mặt tiền Nhà thờ trên lối vào chính. Một linh mục Dờng Đaminh người Mỹ là Thomas Mc Glynn đã dành nhiều thời giờ nói chuyện với thị nhân là Sr Lucia khi Sr diễn tả cho ngài từng chi tiết Đức Maria đã nhìn như thế nào lúc Mẹ hiện ra. Bức tượng là tác phẩm hợp tác giữa thị nhân và nhà điêu khắc để miêu tả chính xác nhất Đức Mẹ Fatima. Bức tượng này là món quà của người Công giáo Hoa kỳ gửi đến Đền thánh Fatima năm 1958.
Nhà thờ có chiều dài 70,5m, rộng 37m. Trên tháp chuông là một vương miện bằng đồng nặng 7.000kg bên trên đặt cây thánh giá có chất lân tinh ban đêm có thể thấy từ xa. Bộ chuông gồm 62 cái và chuông lớn nhất nặng 3.000kg, quả chuông nặng 90kg.
Mặt tiền hai bên có đến 200 cột nối liền với các Tu viện và các tờa nhà của bệnh viện. Trên các cột trụ có tượng 17 vị thánh. Những hàng cột tạo thành một vờng cung ôm trọn một bề ngang của quảng trường. Ở ngoài hành lang bên trái có vườn cỏ dựng hai bức tượng thạch cao của hai trẻ đang cầm tràng chuỗi là Phanxicô và Giacinta. Giữa hành lang và cổng chính của nhà thờ là một lễ đài có mái che dùng để cử hành thánh lễ ngoài trời giống như ở quảng trường Thánh Phêrô.

Bên trong Nhà thờ gồm một gian chính, hai gian ngang. Cung thánh được ngăn cách bởi một bao lơn rước lễ ngày xưa. Phía bên trái có tượng Đức Mẹ Fatima Thánh Du, được Giám mục của Leiria đặt làm giống hình ảnh Đức Mẹ mà Lucia mô tả và được Tổng Giám mục Evora làm phép trọng thể vào ngày 13-5-1947, và sau đó tượng được rước đi  khắp thế giới trong đó có Miền Nam Việt Nam. Bức tượng này, sau khi thánh du mọi nơi, đến năm 2003 đã được đem về đặt trên một bệ đá bên trái bàn thờ chính.
Phía trước cung thánh, phía cánh ngang bên phải là mộ của Phanxicô chết năm 1919. Cũng như người em gái, thi hài Phanxicô được chôn ở nghĩa trang giáo xứ Fatima. Năm 1952, di hài hai em được cải táng và đem về chôn trong Nhà thờ. Phía bên trái có phần mộ của Lucia và Giaxinta. Giaxinta chết năm 1920 lúc mới 9 tuổi. Lucia chết ngày 13-2-2005, an nghĩ tại tu viện Carmêlô ở Coimbra, sau đó được cải táng và đem về chôn bên cạnh người em họ của mình vào ngày 19-2-2006.
Gần bàn thờ, có mộ Đức Cha José Alves Correia da Silva, Giám Mục tiên khởi của Giáo phận Leiria. Chính ngài đã mở cuộc điều tra và đến năm 1930 tuyên bố sự kiện Fatima là “đáng tin” và cho phép việc tôn sùng.
Có 15 bàn thờ dâng kính 15 mầu nhiệm Kinh Mân Côi. 14 bàn thờ nhỏ nằm hai bên hông của gian chính, mỗi bàn thờ có một bức phù điêu bằng đồng mô tả 14 mầu nhiệm của Chuỗi Mân Côi. Mầu nhiệm thứ 15 là một bức hình đắp nổi cao bằng đá Chúa Ba Ngôi đội vương miện cho Đức Mẹ nằm trên vờm của bàn thờ chính, do Maximiano Alves và Stella Albuquerque thực hiện, nặng 65.000kg.
Một cây đàn đại phong cầm được thiết kế vào năm 1952 với 12 ngàn ống ở trên cao phía sau mặt tiền Nhà thờ. Bốn tượng của 4 vị đại Tông đồ cổ võ Kinh Mân Côi và lờng sùng kính Đức Maria được đặt ở 4 góc Đền thờ. Đó là Thánh Antôn Maria Claret, Thánh Đaminh, Thánh Gioan Eudes và Thánh Stêphanô vua nước Hunggary.
Và còn rất nhiều tác phẩm đủ loại do nhiều nghệ nhân thực thiện để làm cho vương cung thánh đường thêm uy nghi. Đó là những kỷ vật có thể do một giáo xứ hay một cộng đồng địa phương hay ngoại quốc dâng tặng để kính Đức Mẹ.
6.     Sứ điệp Fatima.
Ngày xưa, Fatima là một khu vực hoang vu. Làng Fatima là một thôn nghèo. Nét hoang vu và nghèo nàn ngày xưa đó như còn phảng phất nơi những hoa cỏ nội đồng, những bụi lau, cây sậy … Tuy nhiên, bên cạnh chút hương đồng gió nội của thời xa xưa ấy là những khách sạn, những nhà dòng, những nhà nghỉ, những nhà tĩnh tâm dành cho khách hành hương ….và vô vàn của hiệu bán các tranh, ảnh tượng thánh và đồ lưu niệm. Trung tâm Fatima chính là Vương cung Thánh đường kính dâng Mẹ với quảng trường rộng mênh mông.

Nhìn từ Vương cung thánh đường: bên phải chính là nhà nguyện Đức Mẹ hiện ra,nơi đây con cái Mẹ Lần Chuỗi và Chầu Thánh Thể suốt ngày đêm; bên trái là Bảo Tàng Viện, nơi lưu giữ tất cả những kỷ vật dâng kính Mẹ Fatima từ khắp nơi trên thế giới, mà đặc biệt nhất là triều thiên Đức Mẹ Fatima có gắn đầu đạn mà Ali Aca đã ám sát Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 13.05.1981 (điều lạ lùng là triều thiên được làm từ năm 1957, nhưng khi Đức Thánh Cha tặng cho trung tâm Fatima đầu đạn này để gắn vào triều thiên của Đức Mẹ như 1 lời tạ ơn … thì ngay chính giữa triều thiên đã có sẵn 1 lỗ vừa khớp với đầu đạn … như thể là Mẹ đã chuẩn bị trước, giống như trong “Bí Mật thứ 3” được chị Lucia ghi lại và được Giáo Hội cho công bố năm 2000); bên cạnh của Bảo Tàng Viện là một phần nhỏ của Bức Tường Ô Nhục Bá Linh do cộng sản Đông Đức dựng lên năm 1961 để ngăn những người trốn chủ nghĩa cộng sản từ Đông Đức qua Tây Đức, bức tường này bị phá huỷ vào năm 1989 đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại Châu Âu, và biến cố này được coi như có sự can thiệp của Mẹ Maria, vì từ năm 1917, Đức Mẹ đã kêu gọi “cầu nguyện cho Nước Nga trở lại”; phía trước của quảng trường mênh mông là “Nhà Thờ hầm” thật hùng vĩ và hiện đại khánh thành năm 2007 để dành cho những dịp hành hương vào Mùa Đông, trong quần thể này có nhiều văn phòng mục vụ, nhiều nhà nguyện nhỏ, nhiều phòng giải tội và bảo tàng …

Những ngày hành hương, tham quan và cầu nguyện, gợi lên trong tôi những suy nghĩ về Sứ điệp Fatima.
a.     Hòa bình
Đức Mẹ Maria hiện ra với ba trẻ chăn chiên với mục đích là mang sứ điệp Hòa bình chân chính đến cho nhân loại. Ăn năn đền tội và cầu nguyện là điều kiện để bảo đảm cho nền Hòa bình thế giới và sự bình an của mỗi tâm hồn.
Bên cạnh Vương cung Thánh đường, có một mảng lớn của bức tường Bá linh.Người ta gọi đó là “bức tường ô nhục” vì nó được xây nên để phân cách nước Đức,chia ra thành Đông Đức và Tây Đức, làm cho anh em một nhà phải xa nhau. Bức tường ấy đã bị phá đổ và một mảng tường lớn có chiều dài chừng7m, chiều rộng chừng 2,2m được đưa về đây, như một lời tạ ơn Đức Mẹ và như lời mời gọi, hãy phá bỏ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, các quốc gia, xây dựng và củng cố nền Hòa bình đích thực.
Tháng 10 năm 1930, Ðức Cha Dom José Alves Correia, Giám Mục giáo phận Leiria, công nhận biến cố Mẹ hiện ra tại Fatima, và ban phép sùng kính Mẹ Fatima.Thôn làng nhỏ bé Fatima đã trở nên trung tâm hành hương thế giới. Khách thập phương tề tựu về bên Mẹ cầu khẩn, tạ ơn, xin ơn. Fatima trở thành động lực thúc đẩy mọi người hưởng ứng lời Mẹ nhắn nhủ: cầu nguyện và hy sinh cho tội nhân được ơn trở lại, nhất là nguyện cầu cho thế giới được Hòa bình.
Sứ điệp Hòa bình của Fatima rất Hòa hợp với sứ điệp hòa bình của Phúc Âm. Hòa bình thật khẩn thiết và quan trọng biết bao cho cuộc sống nhân loại! Mọi người đều mong muốn hòa bình, khát khao được sống trong hòa bình. Mẹ Maria ban cho nhân loại một nền hòa bình chân chính và bền vững. Muốn được hưởng nền Hòa bình đích thực ấy, nhân loại cần phải thực hiện những điều kiện hữu lý và hoàn toàn khả thi mà Đức Mẹ đưa ra, đó là:- Sám hối ăn năn và cải thiện đời sống. Xưng tội rước lễ các ngày Thứ Bảy đầu tháng - Siêng năng cầu nguyện, hy sinh hãm mình đền tội và lần Chuỗi Mân Côi - Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
b.     Lần hạt Mân Côi và hãm mình đền tội.
Ngay lần đầu tiên khi hin ra với ba em ngày 13.5.1917, Đức Mẹ đã xin ba em: Các con hãy cầu nguyện kinh Mân Côi mỗi ngày để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh. Sứ điệp này Đức Mẹ còn nhắc lại nhiều lần khi hiện ra với các em sau này.  
Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 13.7.1917, Đức Mẹ cũng lặp lại sứ điệp trên và cho ba em được thấy thị kiến hỏa ngục. Chị Lucia kể lại như sau:"Ta muốn con đến đây ngày 13 tháng sau, và tiếp tục đọc kinh Mân Côi tôn kính Đức Bà Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và cho chiến tranh chấm dứt”“Đức Mẹ cho chúng tôi thấy một biển lửa rất lớn, hình như ở dưới lòng đất. Ngập lặn trong biển lửa đó là ma qủi và các linh hồn, như thể những cục than trong như phalê mầu đen hoặc vàng cháy giống hình người, bị đẩy lên đẩy xuống trong đám cháy, phát ra những tia lửa và đám khói, rơi xuống tứ tung như những tàn lửa trong một đám cháy lớn, không trọng lượng, không cân bằng, giữa những tiếng la hét thất thanh, đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh tởm và run sợ vì khiếp đảm. Lũ quỉ có thể nhận ra được vì những hình thù ghê tởm làm nôn mửa của thú vật gây khiếp đảm và chưa hề thấy, nhưng trong như pha lê và đen. Thị kiến này chỉ xảy ra trong giây phút và nhờ Đức Mẹ đã hứa trước là sẽ đưa chúng tôi lên Trời, nếu không chắc chúng tôi sẽ chết vì khiếp đảm và sợ sệt.Sau đó, chúng tôi nhìn lên Đức Mẹ; với vẻ mặt nhân từ và buồn sầu, Người nói với chúng tôi: Các con đã thấy hỏa ngục nơi nhiều linh hồn các kẻ có tội đã rơi xuống. Để cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới lòng sùng kính Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ. Nếu họ làm những gì Mẹ nói, nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽ có hòa bình …”
“Chúng tôi nhìn thấy về phía trái Đức Mẹ, hơi xếch lên trên có một Thiên Thần, tay trái cầm ngọn giáo lấp lánh phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới, nhưng tắt ngấm khi tiếp xúc với ánh hào quang phát ra từ tay phải của Đức Mẹ chỉ về phía Thiên Thần. Tay phải của Thiên Thần chỉ mặt đất và nói với giọng rất lớn: Hãm mình đền tội, Hãm mình đền tội, Hãm mình đền tội!”  (Trong thị kiến này, chị Lucia nói đến Vị Giám mục mặc áo trắng mà chị nghĩ là Đức Thánh Cha, nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ leo lên ngọn núi cao, dốc mà trên đỉnh có cây Thánh Giá lớn …) 
Để cứu linh hồn các kẻ có tội khỏi sa hỏa ngục và để giải quyết vấn đề lớn lao của thế giới là chiến tranh,Đức Mẹ đã xin: lần hạt Mân Côi và hãm mình đền tội. (x.Thư mục vụ tháng 5/2017, ĐGM Giáo Phận Xuân Lộc).
Những vấn đề của thế giới ngày nay trên căn bản cũng không khác bao nhiêu những vấn đề của thế giới vào thời gian Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, có khác chăng là khác về tính cách nghiêm trọng và cường độ của các vấn đề. Đứng trước những vấn đề lớn lao như chiến tranh, bất công, áp bức, tự do tôn giáo, tục hóa, vô thần ..., người ta có thể hỏi: “Lần hạt Mân Côi và hảm mình đền tội có nghĩa gì? Có ích gì?”.
-   Trước tiên, sứ điệp Fatima, khi kêu gọi cầu nguyện, ăn năn trở lại, hy sinh hãm mình, không chối bỏ sự quan trọng của những công việc trong lãnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, ngoại giao, khoa học … Tuy nhiênnếu muốn đi tới tận nguồn căn nguyên của các vấn đề thì phải đi vào lòng ngườibị thoái hóa vì tội lỗi. Tin Mừng Thánh Marcô thuật lại câu chuyện người bất toại được bốn người khênh đến xin Chúa chữa lành bệnh. Tuy nhiên, trước khi chữa bệnh bất toại, Chúa đã nói một câu bất ngờ mà họ không nghĩ đến, nhưng lại là căn nguyên của cơn bệnh: “Này con, tội con đã được tha” (Mc 2,5). Chỉ có Chúa mới giải thoát con người khỏi tội lỗi; chỉ có ơn thánh của Chúa mới có khả năng cải hóa và thay đổi lòng người là nguồn gốc của các chương trình, dự án, hành động …
-   Tình liên đới đại đồng: trong thế giới đầy dẫy những dấu hiệu của sự chết, của sự dữ, nhất là hận thù, căm hờn, ích kỷ, tư lợi, dục vọng đang gây ra biết bao tội ác, cần phải làm tăng thêm những dấu hiệu của sự thiện, của tình thương trong thế giới phủ đầy bóng tối của sự chết, sự dữ, nhất là sự hận thù, căm hờn, ích kỷ, tư lợi, dục vọng đang gây ra biết bao tội ác, càng cần được thắp lên ánh sáng của sự thật, sự thiện, công lý và tình thương. Mỗi cử chỉ, hành động của tình yêu được lan toả ra khắp nơi, làm tăng thêm sức mạnh của sự thiện. Tình yêu trong đau khổ là một sức mạnh có khả năng thấm vào lòng và biến đổi con người, gây lên một bầu khí mới.
-   Đền bù tội lỗi phá hủy các thụ tạo là công trình của Chúa và có khi còn xúc phạm trực tiếp đến Chúa.
7.     Kết luận
Sự kiện Fatima đã qua đi trọn vẹn trong năm 1917, cách đây đúng 100 năm. Sứ điệp Fatima như lời mời gọi của Đức Mẹ bùng lên mãnh liệt khắp mọi miền trên thế giới. Sứ điệp Fatima, với lời kêu mời khẩn thiết để hoán cải và đền tội đã lôi kéo con người tới trọng tâm của Tin Mừng. Fatima chắc chắn là cuộc hiện ra mang tính chất tiên tri nhất trong thời hiện đại.Mẹ Fatima là Mẹ Mân Côi. Mân Côi chính là hoa hồng. Mân Côi là bông hồng đẹp, viên ngọc quí. Bằng chuỗi Mân Côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền. Bằng cuộc sống hàng ngày, mỗi kitô hữu kết dệt nên những bông hoa thiêng liêng dâng kính Mẹ. Với ơn Mẹ, cuộc sống mọi người sẽ toả hương khoe sắc nhân đức và mang đến cho đời Hòa bình và bình an. Xin Mẹ chúc lành cho đời sống chúng con.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Ơn gọi

16:05 |
Nói đến ơn gọi, ai trong chúng ta cũng nghĩ đến những người được kêu gọi để trở thành linh mục, giám mục hay những người nam nữ tu sĩ trong những bộ áo dòng thánh thiện. Quả thực ơn gọi là tiếng gọi của Thiên Chúa, là ơn của Thiên Chúa gọi một ai đó nhưng không chỉ là trở thành một người trong đời sống tu trì, nhưng hơn thế là để trao cho họ một sứ mạng, một ơn gọi cho một sứ vụ từ Trời.
Thánh Kinh cho ta biết về những ơn gọi cao cả: từ Abraham được gọi để trở thành tổ phụ của một dân tộc, đến Môsê – đứa trẻ dòng dõi Lêvi được gọi để trở thành người giải phóng dân tộc Do Thái. Từ Samuel được gọi để trở thành ngôn sứ và thủ lãnh đến David – đứa trẻ chăn chiên được gọi để trở thành vua của một dân tộc. Từ Giona được gọi để trở thành ngôn sứ trong sự chối từ và giận dỗi, đến Maria – người phụ nữ được chọn gọi để trở thành mẹ của Thiên Chúa. Tất cả những ơn gọi ấy làm nên một lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa tác động trong dòng lịch sử nhân loại. Nhưng thiết tưởng ơn gọi không chỉ là để trao những sứ vụ, nhưng ơn gọi nền tảng của con người phải là ơn gọi làm người, một ơn gọi cội nguồn của mọi ơn gọi khác. Bởi Thiên Chúa chỉ gọi một người thi hành sứ vụ khi họ đã là một con người.
Cuộc đời con người tự nó đã là một huyền nhiệm, huyền nhiệm vì con người được tạo dựng trong ý định của Thiên Chúa: “chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” [1]. Như thế, nơi sâu thẳm thân phận con người đã có một huyền nhiệm và con người không tồn tại do chính ý định của mình. Câu truyện thời đệ nhị thế chiến của một văn hào Pháp kể cho ta về kinh nghiệm của chính ông khi bị bắt và nhốt tại trại tập trung của Đức Quốc Xã. Mọi người bị nhốt trong một căn phòng chật chội, để giết thời gian, mọi người trong phòng mới nghĩ đến cách mỗi người tưởng tượng xem mình đã có mặt trên đời này như thế nào. Có những câu chuyện được kể ra nhưng đại khái mỗi người đều kể như nhau về cuộc gặp gỡ định mệnh của cha mẹ, sau đó hai người lấy nhau và sinh ra mình. Nhưng ông tự hỏi: chẳng lẽ cuộc đời của tôi với biết bao niềm vui nỗi buồn lại bắt nguồn bởi một ánh mắt nhìn của một người con gái? Chẳng lẽ cuộc đời đầy những thăng trầm và những biến cố của tôi lại khởi đi từ hành vi tình dục của hai người nam nữ hay sao?
Quả thực, con người không chỉ đơn thuần là vật chất nhưng là một huyền nhiệm và khởi đi từ huyền nhiệm của tình yêu của người với người. Hơn thế nữa, con người còn được khởi đi từ chính ý định của thần linh là Thiên Chúa của mình, chính trong nhãn giới đó mà con người tự nó là một huyền nhiệm và ơn gọi làm người tự nó đã là một ơn gọi cao cả. Nhưng làm sao để chúng ta sống ơn gọi làm người của chúng ta hay chúng ta cứ buông xuôi phó mặc cho dòng thời gian và sự đẩy đưa của cuộc đời?
Tâm thức của người Việt Nam có câu: “không thành công thì cũng thành nhân”, nhưng thiết tưởng không phải như vậy, vì chúng ta trước hết phải thành nhân trước đã, rồi thành công hay không sẽ được xét đến sau, nói cách khác, nếu chúng ta thành công mà không thành nhân mà lại trở thành một con thú nào đó thì thật là vô vọng và nguy hiểm. Như vậy, trước tiên chúng ta cần sống cho thành nhân trước đã, bởi chưng mỗi người khi sinh ra đã là người trong phương diện hình thể với chân tay, đầu cổ, con tim và trí tuệ… và cho dẫu họ có thiếu hụt một vài cơ phận thì họ vẫn mang trong mình dáng dấp con người và một bản thể người. Thế nhưng là người chưa chắc đã làm người. Bởi làm người đòi chúng ta phải sống cho xứng với nhân phẩm một con người, làm người đã khó nhưng để trở thành người hay một mức độ trưởng thành nhân bản (gốc người) lại còn khó hơn nữa. Tu đức và đạo đức bình dân gọi các nhân đức công bằng, tiết độ, khôn ngoan, dũng cảm là những nhân đức trụ trong các nhân đức nhân bản của con người. Khi con người sống trọn vẹn bốn nhân đức này, chúng ta mới có thể trở thành nhân cách tốt đẹp nhất. Hai nhân đức đầu tiên công bằng và khôn ngoan làm cho con người có thể làm người, hai nhân đức sau khôn ngoan và tiết độ làm cho phẩm giá của con người ấy có giá trị hơn.
Liền sau ơn gọi làm người, mỗi người công giáo còn mang trong mình ơn gọi để trở thành một Kitô hữu. Chúng ta nói ơn gọi vì đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa ban cho mà chúng ta không thể nào tự mình có được hay do nỗ lực bản thân mà có. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa và nó có tính chất năng động và linh hoạt. Ơn gọi Kitô hữu chính là việc tin vào Thiên Chúa được mạc khải qua Đức Kitô, ơn gọi Kitô hữu là việc tin vào Đức Kitô chính là Thiên Chúa đã làm người, chịu nạn, chịu chết và đã sống lại, ơn gọi Kitô còn là việc sống những điều Thiên Chúa dạy trong đời sống của mình. Như thế, khi con người nhận được ơn gọi làm người để cùng sống với con người thì ơn gọi Kitô hữu mời gọi chúng ta sống cùng Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Chính trong ơn gọi ấy con người Kitô hữu được lãnh nhận những chức vụ với Thiên Chúa và với con người. Ơn gọi Kitô cũng là một ơn gọi nền tảng cho con người và có một chiều kích phổ quát. Là nền tảng vì nó là bắt nguồn của những ơn gọi khác, như thánh Augustin nói: “cho anh em tôi là giám mục, với anh em tôi là Kitô hữu”. Ơn gọi trở thành Kitô hữu cũng nhắc nhớ chúng ta phải lắng nghe lời của Thiên Chúa nói với mình. Nhưng chúng ta tìm kiếm lời Chúa ở đâu trong cuộc sống bộn bề của ngày hôm nay? Lời Thiên Chúa vẫn nói với con người trong Thánh Kinh, Thánh Kinh không phải là cuốn sách chết được viết cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng Thánh Kinh là lời sống động của Thiên Chúa, vì chưng phụng vụ lời Chúa mỗi ngày cho ta được một đoạn Thánh Kinh giống nhau nhưng mỗi người chúng ta lắng nghe lời Chúa nói với mình cách hiện sinh và hiện tại. Thiên Chúa nói với tôi không phải là trong quá khứ nhưng là ngay trong lúc này: “đừng xét đoán để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán”, Ngài cũng nói với tôi trong hiện tại: “anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” và Ngài vẫn thúc đẩy tôi hành xử với mọi người những điều tốt đẹp theo khuôn vàng thước ngọc: “Điều gì anh em muốn người khác làm cho mình, anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”. Như vậy, lời của Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta vào thời điểm hiện tại, vào lúc này của cuộc sống để đánh thức và kêu gọi chúng ta hoán cải. Lời Thiên Chúa còn được phát ra ngay trong đáy lòng của mỗi người qua tiếng nói của lương tâm. Ai cũng có một lương tâm và đó là tiếng nói của Thiên Chúa đang thúc đẩy ta làm lành và lánh dữ. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói đó trong chính mình và mau mắn thi hành. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta có dám lắng nghe và thi hành theo theo tiếng của Thiên Chúa nói với mình hay không. Khi ngôn sứ Elia đến và nói với vua Akháp: “Ngài hãy xin Đức Chúa một dấu và Ngài sẽ ban cho”, nhưng vua Akháp trả lời rằng: “Tôi là ai mà dám thử thách Đức Chúa”, ở đây không phải vua không dám thử thách Đức Chúa cho bằng ngài không muốn lắng nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa, vì khi nghe được tiếng nói ấy ngài và mỗi người chúng ta bị lời ấy chất vấn, và vì chính mình mà phải chối từ không muốn thi hành mà làm theo ý riêng của mình và không muốn hoán cải. Sống ơn gọi Kitô hữu chính là việc chúng ta sống đức tin và cử hành đức tin Kitô qua đời sống cầu nguyện và phụng tự của mình. Ơn gọi Kitô hữu liên kết chúng ta với Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau, ơn gọi Kitô hữu đồng thời đưa ta vào trong gia đình Giáo hội là chính thân thể của Đức Kitô, ơn gọi ấy còn mời gọi ta sống với Chúa và sống cho nhau trong tình yêu thiện hảo mà Thiên Chúa đã gieo vào đáy lòng mỗi người chúng ta.
Khi đến một lứa tuổi nào đó, chúng ta bắt đầu cảm nhận được một tiếng gọi để chọn lựa một bậc sống và lối sống. Kinh Thánh Tân ước cho ta một trình thuật về ơn gọi của bốn môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, các ngài vẫn sống cuộc sống bình dị cho đến một ngày Đức Giêsu đến và gọi: “các anh hãy theo Ta”. Khi nghe thấy tiếng gọi ấy, các môn đệ đã lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Chúng ta ngày hôm nay chẳng có mấy ai được Thiên Chúa hiện đến và gọi “hãy theo Ta” cách nhãn tiền như vậy, chúng ta càng không được gọi theo cách của các môn đệ qua sự tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa. Thế nhưng ngày hôm nay, tiếng gọi của Thiên Chúa đã và đang được gieo vào trong lòng mỗi người chúng ta trong đời sống hằng ngày. Cũng như các môn đệ đầu tiên, sau khi đã nghe Gioan Tẩy giả loan báo “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” và các ông đã đi theo Đức Giêsu để được ở cùng Ngài ngày hôm đó; sau ngày hôm đó các ngài lại trở về với đời sống thường ngày của chiếc thuyền và cái lưới, họ cũng cầu mong thời của Đấng Thiên sai và sống với tâm tình ấy, nơi con người Giêsu, Ngài đã để lại cho các ông một cảm tình đặc biệt để rồi từ cảm tình, sự tín nhiệm ấy mỗi ngày lại lớn lên và đến khi chín muồi Đức Giêsu đến và gọi: “hãy theo Ta” và các ông lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Ơn gọi của chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng khởi đi từ những trò chuyện, những tiếp xúc với ai đó để có một sự tín nhiệm nơi họ, để rung động, để yêu thương, để gặp gỡ và đến với ơn gọi hôn nhân của mình. Chúng ta cũng khởi đi từ những cảm nghiệm, những tâm tình với thế giới và con người, khởi đi từ cầu nguyện để đến với ơn gọi tận hiến và tu trì. Thiên Chúa vẫn chọn và gọi qua đời sống rất thường nhật để rồi chúng ta cảm nghiệm trong cuộc sống và một lúc nào đó chính Thiên Chúa qua một trung gian, Ngài thể hiện tiếng gọi của mình và mời gọi chúng ta vào bậc sống với và sống cho người khác. Ta sống trong ơn gọi hôn nhân nhờ tiếng gọi của Thiên Chúa đưa ta đến với một ai đó để yêu thương, để bổ khuyết và xây đắp gia đình, Thiên Chúa gọi ta đến với ơn gọi tu trì qua lòng nhiệt thành tông đồ, qua tình yêu dâng hiến trong đời sống phục vụ Thiên Chúa qua tha nhân. Điều quan trọng là ta có biết nhận ra tiếng Thiên Chúa muốn ta sống thế nào. Các môn đệ đã lập tức đáp trả tiếng gọi bằng việc theo Đức Kitô, nhưng sau đó ta lại thấy Phêrô lại lập tức chối Chúa đến ba lần, Giuda cũng lập tức bán Chúa với giá của một tên nô lệ, Toma cũng lập tức nghi ngờ về sự phục sinh của thầy mình.
Nếu như các tông đồ là những người có kinh nghiệm trực tiếp ở với Đức Giêsu mà còn có những thời gian của chán nản, vô tín thì huống chi chúng ta làm sao có thể sống trọn vẹn ơn gọi của mình được. Sống ơn gọi chính là việc từng ngày chúng ta phải tiếp tục chọn lựa, vì không phải chọn lựa một lần là cuộc đời của chúng ta sẽ bình ổn như vậy, cuộc đời sẽ có những thăng trầm và biến động khiến ta phải đặt lại ơn gọi của mình. Con người luôn hiện sinh trong cuộc đời của họ, cũng vậy, chúng ta sẽ một ngày nào đó bị phai nhạt tình yêu của mình trong ơn gọi cho dẫu là ơn gọi tận hiến hay hôn nhân. Tình yêu vợ chồng sẽ có ngày phai nhạt và tình yêu tận hiến với sứ vụ và Thiên Chúa sẽ mai một với thời gian. Vì thế, điều cần thiết là mỗi ngày chúng ta cần làm mới lại tình yêu của mình với Thiên Chúa hay với người bạn đời, để qua việc làm mới ấy, mỗi ngày chúng ta lại sống lại tình yêu và cảm giác ban đầu của việc chọn lựa.
Ơn gọi con người không chỉ dừng lại trong việc chọn bậc sống hôn nhân hay tu trì, nhưng mỗi người đều có ơn chung một ơn gọi nên thánh: “Các ngươi hãy nên thánh vì ta là Đấng Thánh”[2]. Chính Thiên Chúa đã muốn con người sống thánh thiện giống như Ngài là Đấng thánh. Đức Giêsu cũng truyền dạy con người thời Tân ước: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” [3]. Chỉ Thiên Chúa là Đấng Thánh và chúng ta bắt chước Ngài trong ơn gọi này. Sự thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi con người đó chính là việc con người biết lưu giữ và tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. Hình ảnh Thiên Chúa chính là việc con người tỏ lộ mối hiệp thông Ba Ngôi trong đời sống cộng đoàn của mình, điều này có nghĩa mỗi người chúng ta sống tinh thần hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta cần củng cố đời sống cầu nguyện của mình qua việc tham dự thánh lễ và cử hành các bí tích, qua việc cầu nguyện riêng tư và với cộng đoàn nhằm thiết lập mối tương quan cá vị (riêng tư) của mình với Thiên Chúa như một người thân, một người bạn và là Thiên Chúa của mình. Nhưng chúng ta không chỉ sống với Thiên Chúa mà còn sống với con người, vì thế: “ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình đó là kẻ nói dối” [4].
Đời sống cầu nguyện phải được thăng hoa trong chính cuộc sống hằng ngày bằng cử chỉ thân tình và mối hiệp thông với mọi người chung quanh. Thánh nhân phải là người sống cùng thế giới và thăng tiến đời sống tâm linh của mình nhờ việc cộng tác phát triển cộng đồng sinh mệnh mình đang sống. Không có thánh nhân nào không có một quá khứ, không có tội nhân nào lại không có một tương lai. Chúng ta ý thức thân phận dòn mỏng của con người chúng ta dễ sa ngã chước những cám dỗ của cuộc sống, nhưng không vì thế mà chúng ta tuyệt vọng. Nhưng chúng ta, những con người theo Chúa cần sám hối mỗi ngày và quyết tâm sửa đổi bản thân. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi căn bản mà Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người, nhờ đó con người mỗi ngày ước muốn hoàn thiện mình và chọn bậc sống nào phù hợp với mình hầu đạt đến cùng đích của mình là chính Thiên Chúa. Con người khát khao được trở nên giống Thiên Chúa, vì thế nên thánh hay sống thánh thiện chính là con đường tốt nhất để thỏa mãn ước mơ của con người.
Mỗi con người đều mang trong mình những ơn lành của Thiên Chúa, chúng ta sử dụng những ơn lành đó nhằm thăng tiến con người mình trong đời sống Giáo hội và xã hội. Hơn thế nữa, mỗi ngày Thiên Chúa vẫn gửi đến con người những tiếng gọi để chọn từng người vào sứ vụ khác nhau: có người được chọn gọi để trở thành linh mục, giám mục; có người được gọi để trở thành những tu sĩ tận hiến cho Thiên Chúa trong đời sống thánh thiện phục vụ người những người nghèo khó, bệnh tật, những người cô đơn kém may mắn; có người được gọi để sống giữa đời với chồng với vợ và con cái, hầu qua gia đình họ trở nên thánh thiện và giúp nhau nên thánh. Mỗi ơn gọi là một sứ mạng khác nhau đồng thời Thiên Chúa cũng ban những ân sủng cùng với tiếng gọi của Ngài. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe và nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa để đáp trả, để vâng nghe và thi hành sứ vụ mà Thiên Chúa trao phó cho mình. Nhưng nền tảng của mọi ơn gọi là ơn gọi làm người, bởi đó con người cần sống ơn gọi nền tảng ấy trong đời sống mình, hầu tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa và bản tính con người tốt lành được Thiên Chúa tạo dựng nơi mình. Ơn gọi nên thánh được Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người như một ơn gọi căn bản nhất, hầu nhờ việc đáp trả tiếng gọi ấy, con người được trở nên giống Thiên Chúa của mình trong sự thánh thiện và tốt lành.
Mục Đồng Nguyễn
———————-
[1] St 1,26
[2]  Lv 11,45
[3]  Mt 5,48
[4]  1Ga 4,20

Tháng 5 – Tháng Hoa kính Mẹ Maria

15:39 |
Mỗi năm, Tháng Hoa, tháng Giáo Hội dành để tôn kính Mẹ Maria, lại trở về với chúng ta như một dịp đẹp và thuận tiện nhất để tất cả chúng ta, mọi tầng lớp con cái loài người cùng tỏ lòng kính yêu Mẹ bằng những bó hoa thiêng, bằng những lời kinh nguyện sốt sắng và tâm tình thảo hiếu biết ơn dâng lên Mẹ hiền qua tràng chuỗi Mân Côi và các bài Thánh Ca về Mẹ trong các Giờ Chầu, Giờ Ðền Tạ tại tư gia hay trong các nguyện đường. 

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA VÀ LÒNG TÔN KÍNH ĐỨC MẸ TRONG THÁNG NĂM

07:30 |
Có lẽ, không một ai trên Đất Việt là người Công Giáo mà lại không biết đến tháng Năm là tháng Hoa dâng kính Mẹ. Thật vậy, sinh hoạt tôn giáo tại các giáo xứ từ Bắc –Trung –Nam, cứ mỗi dịp tháng Năm về, ấy là lúc muôn con tim dạo rực hướng về Mẹ Maria như một ngọn hải đăng để tỏ lòng tôn kính, mến yêu.
Trong số vô vàn cách tỏ bày lòng tôn kính đối với Đức Mẹ nơi con dân Nước Việt, thì lòng đạo đức bình dân như: dâng hoa kính mẹ; rước kiệu Mẹ; lần chuỗi Mân Côi; rồi những bài thánh ca hết sức dễ thương được cất lên để ton vinh Mẹ là Nữ Hoàng Thiên Quốc.
Cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta bước vào tháng Hoa. Tháng Hoa đối với Giáo Hội Công Giáo mang một ý nghĩa đặc biệt vì nó được dành riêng để tôn vinh Mẹ Chúa Trời.
Trước tiên, xin được khởi đi từ lịch sử của tháng Hoa, để thấy được diễn tiến của Giáo Hội trong việc sùng kính này.
  1. Gốc tích tháng Hoa
Mới đây, dịp phong thánh cho hai vị Chân Phước Giáo Hoàng Gioan 23 và Gioan Phaolô 2 vừa qua tại Rôma, qua màn hình trực tiếp, chúng ta đều thấy thời tiết không còn lạnh lắm qua cách ăn mặc của người dân khắp nơi đổ về. Thời tiết lúc này bên Rôma cũng giống như khí tiết của Việt Nam tại các vùng Bắc Bộ. Khí hậu lúc này không còn rét đậm rét hại, cái rét mà nhiều người diễn tả: “rét cắt da cắt thịt”. Vì thế, cây cối trơ trụi và không phát triển là bao.
Từ những nét đặc trưng của khí hậu như thế, nên ngay từ những thế kỷ đầu, tại Rôma, thời điểm này, người ta tôn kính sự thức giấc sau mùa đông dài của thiên nhiên, bằng những cuộc rước linh đình để tôn kính Hoa là nữ thần của mùa Xuân.
Người Công Giáo thời điểm đó đã tôn giáo hóa ý nghĩa này và thánh hóa tập tục đó bằng cách rước kiệu hoa và cầu nguyện cho mùa màng tốt tươi…
Ở nhiều nơi, người ta rước những cành lá có nụ, có hoa ở đầu cành, gọi là “Rước xanh”. Những cành hoa, lá, được đưa về nhà thờ trang trí và nhất là nơi ngai tòa Mẹ Maria.
Đối với các nghệ nhân, thì họ đua nhau điêu khắc hay vẽ những bông hoa thật đẹp để tôn lên vẻ đẹp kiều mỹ của Mẹ trên các bức tranh hay trên vách tường…
Còn các nghệ sĩ thì sáng tác những bài hát mang đượm lòng tôn kính. Các bài giảng về Mẹ cũng được soạn ra để cùng nhau sử dụng hầu bày tỏ lòng tôn kính.
Đến thế kỷ 14, linh mục Henri Suzo dòng Đaminh, vào ngày đầu tháng 5, đã khởi xướng việc trang hoàng hoa muôn sắc chung quanh tượng Mẹ.
Còn thánh Philiphê Nêri, vào ngày 01 tháng 05, đã quy tụ các trẻ em lại quanh bàn thờ Mẹ, và hướng dẫn các em dâng lên Mẹ những bông hoa tươi sắc. Ngài cũng dâng lên Mẹ những đóa hoa lòng còn trong trắng đơn sơ để Mẹ dìu dắt các em.
Sang thế kỷ thứ 17, việc dâng hoa kính Mẹ được cử hành trong toàn dòng các nữ tu kín Clara. Mỗi chiều đều vang lên những bài hát kính Đức Mẹ. Từ đó, dần dần được lan rộng ra bên ngoài nơi các xứ đạo lân cận.
Đầu thế kỷ 19, việc tôn kính Mẹ được lan rộng nhiều nơi. Các nhà giảng thuyết đã có những bài giảng suất sắc về Mẹ. Linh mục Chardon là người có công nhiều nhất trong việc phổ biến lòng đạo đức này. Thời điểm trên, lòng tôn kính Mẹ được cử hành rầm rộ nhất là tại nước Pháp và một số nước lân cận.
Các Đức Thánh Cha được coi là gắn bó đặc biệt với Đức Mẹ, đó là: Đức Thánh Cha Piô VII, đã cổ võ việc sùng kính Mẹ vào tháng Năm. Đức Piô IX đã ban ơn toàn xá cho những ai tham dự việc đạo đức này. Và, đến thời Đức Piô XII, trong Thông điệp “Đấng Trung gian Thiên Chúa”, đã thêm vào và có tính khuyến khích cao: “Việc tôn kính Đức Mẹ trong tháng Năm là việc đạo đức được thêm vào nghi thức Phụng vụ, được Giáo hội công nhận và cổ võ”.
Đầu thế kỷ 20, Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ được Đức Phaolô VI ban hành, trong đó có đoạn viết: “Tháng Năm là tháng mà lòng đạo đức của giáo dân đã kính dâng cách riêng cho Đức Mẹ. Đó là dịp để bày tỏ niềm tin và lòng kính mến mà người Công Giáo khắp nơi trên thế giới có đối với Đức Mẹ Nữ Vương Thiên đàng. Trong tháng này, các kitô hữu, cả ở trong thánh đường cũng như nơi tư gia, dâng lên Mẹ từ những tấm lòng của họ những lời cầu nguyện và tôn kính sốt sắng và mến yêu cách đặc biệt. Trong tháng này, những ơn phúc của Thiên Chúa nhân từ cũng đổ tràn trên chúng ta từ ngai toà rất dồi dào của Đức Mẹ” (Tông huấn về việc tôn kính Đức Mẹ, số 1).
Tháng 10 năm 2002, chuẩn bị mừng 25 năm Giáo Hoàng của đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài gửi đến mọi thành phần dân Chúa bức Tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi” về Kinh Mân Côi, lặp lại xác tín và lòng yêu mến Đức Mẹ. Và dịp Khánh Nhật Truyền Giáo năm 2003, ngài chỉ muốn nhắc lại xác tín này là “Hãy cùng với Đức Maria mà chiêm ngắm, bước theo và sinh Chúa Giêsu cho những người đồng thời với mình”. 
Ngài cũng đã viết hai văn kiện lớn về Đức Mẹ:
– Thông điệp “Mẹ Đấng Cứu Độ”, công bố ngày 25.3.1987, để chuẩn bị Năm thánh Mẫu, bắt đầu từ lễ Hiện Xuống năm 1987 và bế mạc ngày lễ Mông Triệu năm 1988.
– Tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi”, công bố ngày 16.3.2002.      
Chính ngài đã thêm vào Năm Mầu Nhiệm Sự Sáng và công bố Năm Mân Côi (từ tháng 10.2002 đến tháng 10.2003).
Như thế, việc tôn sùng Đức Mẹ không tách rời mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, mà Mẹ được ví như máng chuyển ơn của Người xuống cho nhân loại.
Lược qua một chút về lịch sử tháng Hoa, cũng như những hướng dẫn về lòng tôn sùng Đức Mẹ, chúng ta cùng tiếp tục tìm hiểu thêm về ý nghĩa của tháng này.
  1. Ý nghĩa của tháng Hoa
Mẹ Maria cũng được ví như Người Nữ tuyệt vời, đẹp nhất trong muôn ngàn phụ nữ, Mẹ đẹp tâm hồn, Mẹ đẹp thân xác. Vì thế, nơi hoa tỏa ra mùi thơm ngào ngạt, tượng trung cho các nhân đức nơi Mẹ. Đồng thời, những sắc màu của hoa tượng trưng cho Mẹ là Mẹ muôn loài khi đón nhận vai trò làm Mẹ Thiên Chúa.
Đức Mẹ còn được ví như Hòm Bia của Thiên Chúa, mà hoa lại là vật được dùng để trang trí cho Hòm Bia Giao Ước thời Cựu Ước. Như thế, Đức Mẹ luôn ở bên Thiên Chúa. Và hoa lại ở bên Mẹ…!
Hẳn chúng ta còn nhớ, trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh cho Môsê làm những nụ và cánh hoa để trang trí nơi cây đèn 7 ngọn đặt trước Hòm Bia Giao Ước. Hay như Salomon, ông đã ra lệnh cho nghệ nhân điêu khắc những cánh hoa bên trong và bên ngoài để trang trí nơi Cực Thánh trong đền thờ.
Bắt nguồn từ đó, hoa trong phụng vụ hay truyền thống của người Công Giáo luôn được coi trọng. Nó được dùng để trang hoàng cung thánh, bàn thờ hay để tỏ lòng tôn kính với các vị thánh, đặc biệt là Đức Mẹ. Tức là hoa được dùng vào vị trí trang trọng trong đời sống phụng vụ của Giáo Hội.
Mẹ Maria được ví như bông hoa thơm ngát trước tòa Chúa, nhưng trước đó Mẹ cũng là những con người rất đỗi bình thường như bao người phụ nữ khác. Tuy nhiên, được Thiên Chúa tuyển chọn, và qua tiếng “Xin Vâng” nên Mẹ đã trở nên tuyệt mỹ hơn muôn ngàn phụ nữ. Mẹ đã trở nên đóa hoa thơm ngát trước Ngai Thiên Chúa. Mẹ đã trở nên đóa hoa độc nhất vô nhị của thế giới loài người. Tại sao lại như thế, thưa chỉ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và như một sự tất yếu, Mẹ là Mẹ loài người.
Nhờ ơn Chúa, Mẹ đã trở nên đóa hoa kiệt tác như: ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn đồng trinh trọn đời, Mẹ Thiên Chúa, Hồn xác lên trời và Mẹ như “hoa hường mầu nhiệm vậy”.
  1. Ý nghĩa của việc dâng Hoa kính Mẹ
Tại sao lại dâng hoa mà không dâng những thứ khác? Thưa! Rất đơn giản, vì hoa là thứ đẹp nhất trong mọi loài Chúa dựng nên, chẳng thế mà Đức Giêsu đã ví sự lộng lẫy, tươi đẹp của hoa còn hơn cả vua Salomon: “Chúng con hãy xem hoa huệ ngoài đồng. Chúng không canh cửa, không xe dệt, thế mà Thầy bảo cho chúng con biết, ngay cả Vua Salômôn dù vinh hoa tột bậc, cũng không thể mặc đẹp bằng một bông hoa ấy”.
Các nhà thờ thường hay tổ chức dâng hoa kính Mẹ, lúc này, mỗi màu hoa lại tượng trung cho một nỗi lòng của con cái muốn dâng lên Mẹ, hay ca ngợi một nhân đức nào đó của Mẹ. Như vậy, Hoa biểu trưng cho lòng Mẹ và cũng là biểu trưng của lòng con người:
Hoa huệ trắng biểu trưng sự trong sạch khiết trinh nơi Mẹ;
Hoa hồng diễn tả lòng mến nồng nàn mà Mẹ dành cho Chúa;
Hoa lan toát lên sự trung thành, mạnh mẽ và can đảm nơi Mẹ;
Hoa sen tượng trưng phó thác, đại lượng và cung kính nơi Mẹ;
Hoa có màu tím tượng trung cho sự khiêm tốn …
Người Việt Nam chúng ta khi biết ơn ai, hoặc kính trọng ai, thường hay biểu cảm qua bó hoa hay bông hoa. Cũng vậy khi đón nhận được ơn lành từ Trên ban, người ta cũng dâng tạ bằng những bông hoa. Với người Công Giáo, những biến cố quan trọng trong đời sống đức tin như: khi Rửa tôi; Thêm Sức; lãnh nhận Hôn Phối; hay Truyền Chức thánh, người ta cũng tặng hoa cho những người được mừng, và ngay cả khi chết, người ta cũng biểu đạt bằng hoa trên quan tài, bên di ảnh hay nơi mộ phần. Hay khi gặp rủi ro, tai nạn, bệnh tật, khi hết bệnh, người ta cũng dâng hoa để tỏ làng biết ơn với Thiên Chúa, Đức Mẹ và các thánh…
Riêng với Đức Mẹ, người dân Việt Nam có lòng sùng kính đặc biệt. Từ khắp nơi, mọi thành phần, lứa tuổi, đều hân hoan, nô nức dâng kính Mẹ những đóa hoa tươi thắm mối dịp tháng Năm về.
Tuy nhiên, hoa được dùng để qua đó, diễn tả hoa thiêng cõi lòng của con người. Hoa sẽ tàn phai, héo úa, lòng người cũng sẽ tàn phai và ủ rũ nếu không đón nhận được sứ điệp từ những việc đạo đức này.
Vì thế, điều quan trọng chính là tấm lòng chân thành, đơn sơ, yêu mến, phó thác, cậy trông của mỗi chúng ta dành nơi Mẹ. Như thế, nhờ những cách hoa lòng, chúng ta sẽ được nâng tâm hồn lên với Mẹ để Mẹ đón nhận và bầu chữa cho chúng ta. Thật vậy, không một ai có lòng tôn kính Mẹ mà mất ơn cứu rỗi bao giờ.
  1. Lòng sùng kính Đức Mẹ đem lại hy vọng được sự sống đời đời
Công Đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Trong nhiệm cục ân sủng, kể từ khi Mẹ tin tưởng ưng thuận trong ngày truyền tin, sự ưng thuận mà Mẹ đã kiên quyết giữ trọn cho đến bên Thập Giá. Đức Maria tiếp tục thiên chức làm Mẹ cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu độ mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của ngài trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng ngài vẫn tiếp tục liên lỉ chuyển cầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được cứu độ đời đời …. Vì thế, trong Hội Thánh, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian” (LG 62).
Vì Mẹ là Mẹ của Đầu thân thể mầu nhiệm Hội Thánh là chính Đức Giêsu và là “mẹ của nhân loại” (x. LG 54), và, Đấng Cứu Thế đã mang lấy đau khổ của mọi người thì Mẹ Maria, Đấng đồng công cứu chuộc, đã chia sẻ hơn ai hết các hậu quả tai ác của tội lỗi nhân loại khi đảm nhận sứ mệnh làm Mẹ Đấng Cứu Thế: “Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2, 35).
Tuy nhiên, vai trò Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian của Đức Mẹ phải gắn liền với Đức Giêsu Đấng là khơi nguyên và cùng đích của mọi điều thiện hảo.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cung minh định: “Trinh nữ Maria được công nhận và tôn kính là Mẹ đích thực của Thiên Chúa và của Đấng Cứu chuộc… Mẹ cũng thật sự là ‘Mẹ các chi thể Chúa Kitô’… vì Mẹ đã cộng tác bằng đức ái của mình vào việc sinh ra các tín hữu trong Hội Thánh, là những chi thể của Đức Kitô là Đầu. Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, là Mẹ của Hội Thánh” (x. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 963).
Việc sùng kính Đức Maria còn bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi vì: nhờ Người, với Người và trong Người, mọi vinh quang, danh dự đều quy về Cha trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, những biểu hiện tỏ lòng tôn kính Mẹ Maria cần phải dẫn đến việc tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thế nên, mọi việc tôn sùng Đức Mẹ phải nhằm vào sự kết hợp trực tiếp với Đức Giêsu, thiếu yếu tố này, mọi việc kể như vô hiệu.
Qua những gì đã chia sẻ ở trên dựa trên Giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta có quyền tin tưởng sẽ được cứu độ khi tôn sùng Đức Mẹ cách chính đáng và hợp với ý định và trong chương trình của Thiên Chúa.
Về điểm này, thánh Alphonsô quả quyết: “Hết mọi ơn thánh ở trong Chúa Giêsu như nguồn mạch: nhưng do ý định mầu nhiệm và thương xót của Chúa, không một ơn nào ban xuống cho loài người mà không có Mẹ cầu xin cho. Hơn nữa, Mẹ Maria là Mẹ đầy tình thương, Mẹ chỉ có một sứ mạng, một chức vụ là thương xót: đến nỗi những tội nhân khốn nạn nhất, tuyệt vọng nhất là những người đầu tiên được Mẹ cứu, Mẹ dấu yêu, miễn là họ đừng bỏ mất thiện chí cải tạo mà tin tưởng chạy đến với Mẹ”. Ngài còn kêu gọi tội nhân bằng lời tha thiết này: “Bạn hãy yêu mến Mẹ Maria! Hãy cầu xin Mẹ, thì bạn sẽ được cứu rỗi”; “Chúng ta được rỗi là do Mẹ cầu bầu”; “Tôi tớ Mẹ không ai có thể hư mất đời đời”.
  1. Những việc làm cụ thể tỏ lòng tôn sùng Đức Mẹ theo truyền thống Việt Nam
Bắt nguồn từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Người dân Việt Nam ngay từ lâu, đã có hình ảnh tốt đối với Đức Mẹ qua hình ảnh người mẹ trong đời thường.
Chắc chắn đã có lần anh chị em nghe lời giới thiệu ngọt ngào, truyền cảm, đầy xúc động của ca sĩ Thanh Lan trong băng nhạc chủ đề Quê hương và Lòng Mẹ như sau:
“Mẹ là dòng suối ngọt ngào”
“Mẹ là bóng mát dịu dàng”
“Mẹ là nguồn thương yêu bất tận”
“May mắn thay là những người còn mẹ”
“Mất mát thay là những người thiếu mẹ”
“Mỗi người chúng ta hãy dành một Bông Hồng cài áo Mẹ”
“Tất cả chúng ta đều trở nên bé nhỏ dưới ánh mắt, trong vòng tay và trong tình thương yêu bao la như biển cả của mẹ.”
“Mẹ đã che chở cho chúng ta trong những vinh nhục của cuộc sống, qua những sóng gió của cuộc đời”.
Như vậy, lòng sùng kính Đức Mẹ của chúng ta mang đậm nét kính trọng và mến yêu vì mang nặng tình mẫu tử. Qua hình ảnh người mẹ trần gian, thôi thúc chúng ta hướng về Mẹ trên trời. Thật vậy, trong cuộc sống, những lúc gặp khó khăn hay hoạn nạn, nhiều người đã thuộc nằm lòng những ca vãn ngợi khen, và cầu xin tha thiết như: “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển… “; “Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam…”; “Lạy Mẹ, xin yên ủi chúng con luôn luôn…”, v.v… rồi những kinh Kính Mừng, tràng chuỗi Mân Côi được đọc lên râm ran trong các thánh đường, nơi các gia đình, và trong mọi biến cố vui buồn, thành công hay thất bại… Các cuộc rước linh đình, nhiều đền đài được mọc lên, nhiều nhà thờ được mang tước hiệu của Mẹ. Những thói quen đó đã đem lại cho Giáo Hội Việt Nam một tinh thần sốt sắng, giàu đức tin, lòng mến và trung kiên giữ đạo dù trải qua trăm nghìn thử thách gian truân.
Tuy nhiên, việc sùng kính đó nhiều lúc đã làm cho không ít người xa lạ với đức tin, tức là họ đã nhìn nhận Đức Mẹ như là đấng Trung Gian tuyệt đối, mà quên mất rằng: “Mọi ảnh hưởng có sức cứu độ của Đức Trinh Nữ trên nhân loại, đều bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô” (x. LG 60). “Thực vậy, không bao giờ có thể đặt một thụ tạo nào ngang hàng với Ngôi Lời Nhập Thể và Cứu Chuộc” (Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 970).
Thiết nghĩ, nhân dịp này, mỗi chúng ta hãy nhìn lại việc sùng kính của mình dành cho Đức Mẹ, và nếu đang đi quá xa về cách thức biểu lộ niềm tin và cách tôn sùng Mẹ không đúng với Giáo Huấn của Giáo Hội, thì hãy chỉnh lại sao cho phù hợp, để lòng tôn sùng Đức Mẹ không mất đi hay xa lạ với Đức Tin Công Giáo mà lại làm cho đức tin được thêm khởi sắc và đúng như ý Chúa, ý Mẹ và Giáo Huấn của Giáo Hội mong muốn.
Vì thế, Công Đồng đã nhắc nhở:  “Lòng tôn sùng chân chính không hệ tại ở những tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại ở sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).
Mong sao, những việc tôn sùng Đức Mẹ của chúng ta sẽ dẫn đến việc noi gương Mẹ để sống cho đẹp lòng Thiên Chúa như Mẹ đã sống, để sau cuộc đời này, chúng ta được cùng Mẹ ca ngợi Thiên Chúa không ngừng trên Thiên Quốc.
Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con người Mẹ tuyệt với là Đức Maria. Xin cho mỗi chúng con biết yêu mến Chúa như Mẹ, biết noi gương các nhân đức của Mẹ, để sau cuộc đời nay, chúng con cũng được vào Thiên Quốc dự tiệc vui bên Mẹ.
Lạy Mẹ Maria, xin đón nhận muôn vàn ý nguyện của chúng con dâng lên Mẹ qua những đóa hoa muôn sắc màu, ước gì chúng con được đón nhận những ơn lành của Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ. Amen.
Jos.Vinc. Ngọc Biển

Một vài tâm tình khi bước vào Tháng Hoa

06:19 |
Tháng Năm về, một tháng trong năm với tên gọi thật thơ mộng, thật tươi vui: Tháng Hoa. Mỗi độ tháng Hoa về, các Nhà thờ rộn rã mùa dâng hoa kính Đức Mẹ. Phụng vụ Mùa Hoa tưng bừng nhộn nhịp với nhiều thể loại phong phú Rước hoa và Dâng hoa tuỳ mỗi tập quán mỗi đặc trưng văn hoá địa phương.
Nói tới hoa là nghĩ về một kỳ công của Thiên Chúa. Hoa muôn màu muôn sắc, hoa tươi xinh, hoa thơm ngào ngạt. Hoa tô thắm vũ trụ nên xinh tươi. Hoa mời gọi ong bướm đến hút mật. Hoa khoe sắc thắm, nhoẻn cười với con người.
Lời của hoa thật dịu huyền giữa thiên nhiên. Hoa hòa vào lòng người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Loài hoa nào cũng đẹp. Loài hoa nào cũng gởi cho ta một sứ điệp yêu thương. “Hoa Hướng Dương biểu trưng cho mặt trời toả sáng, sưởi ấm lòng người. Hoa Mười Giờ gởi ta một tình yêu thuỷ chung, son sắt. Dù đời em chỉ toả sáng lúc mười giờ, nhưng trọn đời em vẫn yêu thương.