Đức Thánh Cha ca ngợi sự tiếp cận có tính tế nhị đối với những người tái kết hôn

16:40 |
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã ca ngợi các Đức Giám Mục Argentina về cách thức hành động của các Ngài trong việc tiếp xúc với những người ly dị tái kết hôn. Sau một quá trình dài biện phân và đồng hành, các tín hữu có liên quan sẽ có thể được phép đi đến với Tòa Cáo Giải và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể, trong từng trường hợp cá biệt. Đó là nội dung trong cuốn hướng dẫn của các Đức Giám Mục vùng Buenos Aires dành cho các Linh mục của mình. Một sự “tiếp cận không hạn chế đối với các Bí Tích” là điều không được nghĩ tới, đúng hơn, đó là sự quyết định trong từng trường hợp – các Đức Giám mục nhấn mạnh.
Cuốn hướng dẫn này của các Đức Giám Mục Argentina sẽ “đưa đến nhiều lợi ích”, đặc biệt là về ý nghĩa của nó đối với  công cuộc “Mục Vụ Đức Ái” – Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã ca ngợi như thế trong một bức thư mà nhật báo L´Osservatore Romano của Tòa Thánh Vatican mới trích dẫn lại. Bản văn này hoàn toàn đi theo cùng một tuyến với Thông Điệp Amoris laetitia, và nhắm trực tiếp vào chương 8 của Thông Điệp nêu trên. “Không có bất cứ cách diễn giải nào khác” – Đức Thánh Cha đã giải thích như thế trong bức thư của Ngài. Chương 8 của Thông Điệp Amoris laetitia, dưới tiêu đề “Đồng Hành Với Sự Mỏng Giòn, Biện Phân Và Liên Kết”, là sự tiếp cận với các tín hữu Công giáo đang bị liên lụy đến những tình trạng bất hợp pháp về gia đình.
Điều căn bản: Một sự quan tâm đầy nỗ lực xuất phát từ sự gần gũi nhất
Trong lá thư của mình gửi cho các Đức Giám mục vùng Buenos Aires, Đức Thánh Cha cũng đã giải thích về khái niệm “Mục Vụ Đức Ái” mà Ngài đưa ra: Đó là một sự quan tâm “đầy nỗ lực” xuất phát từ sự gần gũi nhất, mà sự quan tâm ấy không bị giản lược vào “sự giàn xếp theo khuôn mẫu, theo tổ chức hay mang tính pháp lý” theo kiểu của một kẻ môi giới. Các Linh mục cũng nên luyện tập đi luyện tập lại hành vi biện phân có tính mục vụ cho mạnh mẽ hơn – Đức Thánh Cha khuyên. Trong số bốn hành vi mục vụ mà Đức Thánh Cha chỉ ra – đón nhận, đồng hành, biện phân và đồng liên kết – theo sự quan sát của Ngài, thì sự biện phân lại đang là hành vị được thực hành ít nhất. Vì thế, Đức Thánh Cha khuyến khích, hãy đào tạo các Linh mục tương lai một cách tốt hơn theo nguyên tắc ấy.
Trong bản hướng dẫn của mình với tên gọi là “Criterios básicos para la aplicación del capítulo VIII de Amoris laetitia” (Những tiêu chuẩn căn bản nhằm ứng dụng chương 8 của Thông Điệp Amoris laetitia), các Đức Giám Mục vùng Buenos Aires nhấn mạnh rằng, việc cho phép lãnh nhận các Bí Tích không thể là bất cứ điều chi khác ngoài kết quả của một quá trình biện phân căn bản trong từng trường hợp. Linh mục phải đồng hành “cá nhân và mục vụ” trong quá trình này. Tuyệt đối không được hành động cách máy móc: Không phải cứ kết thúc con đường là có một sự tiếp cận với các Bí Tích. Cũng có thể nghĩ tới việc các tín hữu liên quan càng ngày càng tái tham dự hơn nữa vào với đời sống của Giáo hội, chẳng hạn như trong các buổi cầu nguyện hay suy niệm, hay trong những sứ vụ khác nhau của Giáo hội. Trong khi tham dự Đại Hội Quốc Tế về Gia Đình Công Giáo tại Philadelphia, Hoa Kỳ, Đức Thánh Cha đã công khai ca ngợi gương sáng của một cặp hôn nhân như thế.
Những người ly dị tái kết hôn nên được khuyên rằng, trong cuộc sống chung, họ cần tiết chế trước sinh hoạt tính dục theo mức độ bao nhiêu có thể – các Đức Giám Mục Argentina đã đưa ra chỉ dẫn cho các Linh mục của mình như thế. Nhưng điều này không luôn luôn là một con đường có thể dễ dàng vượt qua như các mục tử cao cấp mong đợi. Về những điều chẳng hạn như lỗi của những người có liên quan khá nhỏ, hay có nguy cơ dẫn tới một sự gây hại cho con cái từ cuộc hôn nhân mới, thì Thông Điệp Amoris laetitia đã mở ra “khả năng tiếp cận với các Bí Tích Giao Hòa và Thánh Thể” – các Đức Giám Mục vùng Buenos Aires viết.
Cảnh giác trước các gương mù: Ban các Bí Tích cách thận trọng
Nhưng điều này không được hiểu là một sự tiếp cận không hạn chế với các Bí Tích, và cũng không được biện minh trong từng trạng huống. Chẳng hạn như sự lâu bền của cuộc hôn nhân mới, của sự trắc trở trong các mối tương quan bị lập đi lập lại, hay sự định giá về tình trạng cuộc sống riêng, thì sự biện phân luôn luôn đóng một vai trò đặc biệt.
Điều quan trọng là sự thẩm tra lương tâm của những người có liên quan. Trong trường hợp “những điều phi pháp không được giải quyết” thì việc lãnh nhận Bí Tích là điều “cực kỳ gây bất mãn”. Việc ban Bí Tích trong từng trường hợp với một sự thận trọng đặc biệt, nhất là khi những xung đột đang rình rập, là một điều hợp lý. Ngay cả một bầu khí hiểu biết và cởi mở cũng không được phép tạo ra một cách hiểu “có tính bừa bãi trước Giáo huấn của Hội Thánh về hôn nhân bất khả phân ly” – Nhật báo L´Osservatore của Tòa Thánh Vatican đã trích lại lời của các Đức Giám Mục Argentina như thế.
Theo rv/kna 13.09.2016 gs
Lm. Đa-minh Thiệu
Nguồn: Daminhtamhiep.net

Những khác biệt căn bản giữa Công Giáo, Chính Thống Giáo và Tin Lành

07:00 |
Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ, v.v ... Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.
 


Trả lời: Như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến Kitô Giáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo (Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã (Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I- Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã (Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " (right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính (sound doctrines), tinh tuyền của Kitô Gíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople (tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo La Mã (Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau (anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" (orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine ...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) tách khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã. (Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ (Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết (Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 2 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương (The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy (Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- Về tín lý:

Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ “ Filioque” (và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.

Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân (đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

2-Về phụng vụ: 

Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: 

Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).

Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” (x.SGLGHCG, số 838).

II- Tin lành (Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíao đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.

1- Ở góc độ thần học: 

Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura). Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: “không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi .” (Mt 7:21).

Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.

Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng kinh thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và kinh thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác. Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh (Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ.

Cho nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo. Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ “ không được gọi ai dưới đất là cha là thầy vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời” mà thôi. Vì họ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là ‘lạc giáo=heretical” vì đã cho gọi Linh mục là “Cha” (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; “Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn .” (1 Cor 4: 15; LG. số 28).

Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: “Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy .” (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ “anh chị em “trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.

Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

3- Về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.

Đa số các nhóm này chỉ có phép rửa (Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự (invalidly). Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng (catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo Hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Tông đồ.

 
 Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Khi Người không đáp trả

10:24 |
Tôi gọi mà Chúa không đáp trả. Tôi xin mà Chúa không cho. Có những vực sâu của tâm hồn, có những đêm dài bất an, tôi hướng về Chúa nhưng tôi không gặp.  
Ai trong các con có bạn hữu nửa đêm đến nhà mình nói: Bạn ơi, cho tôi mượn mấy tấm bánh, vì bằng hữu ở xa tới mà tôi hết đồ ăn rồi. Người kia ở trong trả lời: Ðừng quấy rầy người ta, cửa đóng rồi, trẻ nhỏ ngủ hết, ai dậy mà lấy cho ông được. Nhưng nếu họ cứ gõ hoài. Ta bảo thật, người ấy không dậy mà cho vì tình bạn bè thì ít ra vì họ quấy rầy nên cũng ráng dậy mà lấy cho họ. Nên Ta bảo cho các con rõ: Vì hễ ai xin, sẽ được, ai tìm sẽ thấy, ai gõ sẽ mở cho (Lc. 11: 5-10).

Thiên Chúa luôn chờ đợi và tha thứ cho chúng ta

14:45 |
VATICAN. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật, ngày 11.09,  Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng với ba dụ ngôn trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu trình bày cho chúng ta gương mặt đích thật của Thiên Chúa. Ngài là một người cha với vòng tay rộng mở, đối xử với kẻ tội lỗi bằng sự dịu hiền và lòng xót thương.
Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha
“Phụng vụ hôm nay đề nghị với chúng ta chương 15, Tin Mừng theo thánh Luca. Chương này nói về lòng thương xót, bao gồm ba dụ ngôn, qua đó Đức Giêsu đáp lại những lời xì xầm của các kinh sư và luật sỹ. Họ chỉ trích Đức Giêsu về những hành động của Ngài. Họ nói: ‘Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng’ (Lc 15, 2). Với ba dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn mọi người hiểu rằng Thiên Chúa Cha muốn dành thái độ đón nhận, cảm thông và thương xót trước hết cho những người tội lỗi. Trong dụ ngôn thứ nhất, Thiên Chúa được miêu tả như vị mục tử sẵn sàng bỏ lại chín mươi chín con chiên để đi tìm con chiên bị lạc mất. Ở dụ ngôn thứ hai, Thiên Chúa được ví với người phụ nữ đánh mất đồng bạc, đã thắp đèn đi tìm cho kỳ được. Với dụ ngôn thứ ba, Thiên Chúa được miêu tả giống như người cha đón nhận và tha thứ cho đứa con hoang đàng bỏ nhà đi xa; hình ảnh người cha đã vén mở trái tim nhân hậu của Thiên Chúa được diễn tả nơi Đức Giêsu.
Điểm chung của cả ba dụ ngôn này là điều được diễn tả ngang qua các động từ có ý nghĩa chung vui với nhau, mở tiệc ăn mừng. Không phải khóc than, buồn sầu nhưng là chung vui với nhau và mở tiệc mừng. Người mục tử đã mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó’ (Lc 15, 6).  Người phụ nữ cũng mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất’ (Lc 15, 9). Cũng vậy, người cha nói với đứa con cả: ‘Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy’ (Lc 15, 32). Ở hai dụ ngôn đầu, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh đến sự vui mừng. Niềm vui ấy lớn đến nỗi khiến cho người ta phải chia sẻ với ‘bạn bè và hàng xóm’. Trong dụ ngôn thứ ba, điểm quan trọng là tiệc mừng. Tiệc mừng ấy xuất phát từ trái tim giầu lòng thương xót của người cha và lan tỏa đến khắp mọi người trong nhà. Tiệc mừng mà Thiên Chúa dành cho những ai biết ăn năn trở lại với Ngài thật am hợp biết bao với tâm tình mà chúng ta đang trải nghiệm trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Chúng ta đều dùng một thuật ngữ chung ‘năm toàn xá’!
Với ba dụ ngôn này, Đức Giêsu trình bày cho chúng ta gương mặt đích thật của Thiên Chúa, là người cha với vòng tay rộng mở, đối xử với kẻ tội lỗi bằng sự dịu hiền và lòng xót thương. Dụ ngôn cảm động nhất, vì diễn tả tình yêu vô biên của Thiên Chúa, là dụ ngôn về người cha chạy ra ôm cổ người con trai bị lạc mất và hôn lấy hôn để. Như vậy, điểm đánh động ở đây không phải là câu chuyện buồn về một chàng thanh nhiên trẻ bị rơi vào cảnh suy đồi, nhưng chính là những lời nói đầy xác quyết của anh: ‘Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha’ (Lc 15, 18). Con đường về nhà là con đường của hy vọng và của một đời sống mới. Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta bắt đầu cuộc hành trình trở về. Ngài đợi chờ chúng ta với niềm hy vọng. Ngài trông thấy ta khi ta còn ở mãi đằng xa. Ngài chạy ra ôm chầm lấy ta, hôn lấy hôn để và sẵn sàng tha thứ hết mọi tội lỗi. Thiên Chúa là như thế đó! Cha của chúng ta đáng yêu như thế đó! Sự tha thứ của Thiên Chúa xóa bỏ quá khứ lầm lỗi và tái sinh chúng ta trong tình yêu. Quên đi quá khứ chính là điểm yếu của Thiên Chúa. Mỗi khi Ngài ôm lấy ta và tha thứ cho ta là Ngài quên hết quá khứ, chẳng còn nhớ gì nữa. Thiên Chúa lãng quên quá khứ lỗi lầm. Khi chúng ta phạm tội nhưng biết ăn năn và trở về với Thiên Chúa, Ngài sẽ chẳng bao giờ quở mắng hay trách phạt, vì Thiên Chúa cứu độ và tái đón nhận ta vào nhà với niềm vui và tiệc mừng. Chính Đức Giêsu, trong bài Tin Mừng hôm nay, đã nói: ‘Trên trời ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn’ (Lc 15, 7). Tôi muốn hỏi anh chị em một điều: Anh chị em có bao giờ nghĩ rằng mỗi khi chúng ta đi xưng tội là trên trời tràn ngập niềm vui và mở tiệc mừng hay không? Anh chị em có bao giờ nghĩ như thế chưa? Thật là đẹp biết bao!
Điều này mang lại cho chúng ta niềm hy vọng lớn lao, vì với ân sủng của Thiên Chúa chúng ta có thể tiếp tục đứng dậy mỗi khi té ngã trước mọi tội lỗi dù tội đó trầm trọng đến mấy đi nữa. Không có ai là hết phương cứu chữa; chẳng có ai mà không được cứu độ! Bởi vì Thiên Chúa không bao giờ ngừng muốn những điều tốt đẹp cho ta, ngay cả khi ta phạm tội! Xin Đức Trinh Nữ Maria, Chốn Náu Nương cho những ai tội lỗi, làm nảy sinh trong tâm hồn chúng ta niềm xác tín giống như đã nảy sinh trong trái tim của người con hoang đàng: ‘Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: Thưa cha, con thật đắc tội với cha’ (Lc 15, 18). Bằng cách đó, chúng ta có thể làm vui lòng Thiên Chúa và niềm vui của Ngài sẽ trở thành niềm vui cũng như tiệc mừng của chúng ta.”
Tiếp đến, Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Sau Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nói: “Tôi mời gọi anh chị em hãy cầu nguyện đặc biệt cho Gabon, đang trải qua những giây phút khủng hoảng chính trị trầm trọng. Tôi phó thác vào tay Thiên Chúa toàn năng các nạn nhân của những vụ đụng độ cũng như gia đình của họ. Tôi hiệp lời với các Giám mục của đất nước Phi châu mến yêu để mời gọi các bên chấm dứt mọi hình thức bạo lực và cùng nhau thăng tiến lợi ích chung. Tôi khuyến khích tất cả mọi người xây dựng hòa bình trên tinh thần tôn trọng luật pháp, trong đối thoại và tình huynh đệ.
Hôm nay tại Karaganda, ở Kazakhstan, Giáo hội đã tôn phong chân phước cho linh mục Ladislao Bukowinski. Ngài đã bị sát hại vì đức tin. Trong suốt cuộc đời, cha đã bày tỏ tình yêu dạt dào cho những người yếu đuối và nghèo khổ nhất. Chứng tá của cha là kết tinh của những công việc bác ái về tinh thần cũng như thể xác.”
Tiếp đến, Đức Thánh Cha gởi lời chào thân ái đến tất cả các tín hữu ở Roma và khách hành hương đến từ Italia cũng như các quốc gia khác.
Cuối cùng Đức Thánh Cha chúc tất cả mọi người ngày Chúa nhật tốt lành và Ngài cũng không quên xin mọi người cầu nguyện cho Ngài.
Vũ Đức Anh Phương SJ

Bài Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong buổi Đọc Kinh Truyền Tin chung trưa Chúa Nhật 07.08.2016: “Chiếc áo cuối cùng không có túi đựng tiền!”

14:33 |
Bài Huấn Dụ của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô
trong buổi Đọc Kinh Truyền Tin chung trưa Chúa Nhật 07.08.2016:
“Chiếc áo cuối cùng không có túi đựng tiền!”

Anh chị em thân mến, xin chúc anh chị em một ngày tốt đẹp!
Trong Bài Tin Mừng hôm nay được trích từ Tin Mừng theo Thánh Lu-ca (Lc 12,32-38), Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ của Ngài về thái độ mà họ nên đón nhận vì cuộc gặp gỡ chung cuộc với Ngài, và Ngài giải thích cho biết, việc đợi chờ cuộc gặp gỡ này sẽ khích lệ một cuộc sống giầu công việc tốt lành. Ngài khuyên các ông: “Hãy bán tất cả những gì anh em đang có, rồi hãy trao tất cả số tiền thu được cho người nghèo. Hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ mòn rách. Hãy tậu cho mình một kho tàng chẳng thể bị hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, và cũng chẳng có mối mọt nào đục phá!” (Lc 12,33).
Như vậy, Chúa Giê-su đã yêu cầu phải coi trọng việc bố thí với tư cách là công việc của Đức Thương Người, đừng đặt niềm tín thác vào những của cải chóng qua, hãy sử dụng các đồ vật nhưng đừng dính bén vào chúng, đừng ích kỷ, nhưng hãy sống tương xứng với lô-gích của Thiên Chúa, lô-gích của sự quan tâm đối với người khác, lô-gích của Đức Ái. Có thể chúng ta đang bấu bám rất chặt vào tiền bạc, chúng ta đang sở hữu rất nhiều, nhưng cuối cùng thì chúng ta không thể mang theo mình những tiền bạc đó. Chúng ta nên nhớ rằng: “Chiếc áo cuối cùng không có túi đựng tiền!
Giáo huấn của Chúa Giê-su đã tiếp tục với ba dụ ngôn ngắn về đề tài tỉnh thức. Đó là điều rất quan trọng: Cảnh giác, lưu tâm, và tỉnh thức trong cuộc sống. Dụ ngôn đầu tiên là dụ ngôn về những viên đầy tớ chờ đợi chủ trở về trong đêm. “Phúc cho viên đầy tớ nào được chủ nhìn thấy đang thức khi ông trở về!” (Lc 12,37): đó là mối phúc của sự đợi chờ Thiên Chúa trong Đức Tin, sự sẵn sàng trong một thái độ phục vụ. Ngài sẽ có mặt mỗi ngày, Ngài gõ vào cánh cửa tâm hồn chúng ta. Và thật phúc thay ai mở cửa cho Ngài, vì người ấy sẽ nhận được một phần thưởng lớn lao: Chính Chúa sẽ biến mình thành người phục vụ viên đầy tớ của Ngài – đó là một phần thưởng tuyệt vời -, trong Đại Tiệc nơi vương quốc của Ngài, chính Ngài sẽ đến để phục vụ họ. Với dụ ngôn này, tức dụ ngôn được đưa vào trong đêm, Chúa Giê-su đã đặt cuộc sống như là một phiên trực của hoạt động đợi chờ vào trong tầm nhìn, mà nó sẽ xuất hiện trước ngày ánh sáng vĩnh cửu đến. Để tiếp cận được với Ngài, chúng ta phải sẵn sàng và tỉnh thức, đặt mình vào trong sự phục vụ, trong cái nhìn đầy an ủi rằng, “ở trên đó”, chúng ta sẽ không còn phải là những người phục vụ Thiên Chúa nữa, nhưng chính Ngài sẽ đón tiếp chúng ta vào bàn ăn của Ngài. Nếu người ta suy suy nghĩ kỹ về chuyện đó, thì điều đó sẽ diễn ra ngay hôm nay, khi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện hay trong sự phục vụ người nghèo, đặc biệt là trong Bí Tích Thánh Thể, trong đó, Ngài chuẩn bị sẵn một bữa tiệc, để nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời và bằng Thân Thể của Ngài.
Dụ ngôn thứ hai chứa đựng hình ảnh về sự xuất hiện bất thình lình của tên trộm. Sự việc này đòi hỏi sự canh chừng. Trong thực tế, Chúa Giê-su đã cảnh báo: “Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12,40). Người môn đệ chính là người mong đợi Chúa và triều đại của Ngài. Tin Mừng giải thích về cách nhìn này với dụ ngôn thứ ba: về người quản gia sau cuộc khởi hành của người chủ. Trong cảnh tượng thứ nhất, người quản gia thi hành nhiệm vụ của mình cách trung tín và được thưởng công. Trong cảnh tượng thứ hai, người quản gia lạm dụng chức vụ và đánh đập các đầy tớ, và do đó, đã bị trừng phạt khi người chủ trở về cách bất thình lình. Cảnh này mô tả về một tình trạng mà nó vẫn thường xuyên diễn ra, ngay cả trong thời đại chúng ta: biết bao nhiêu là những bất công, bạo lực và những điều xấu xa trong cuộc sồng hằng ngày mà người ta không thể hình dung ra được, chúng ta có thể cư xử như những ông chủ trên cuộc sống của người khác. Chúng ta chỉ có một Thiên Chúa, Đấng không hài lòng với việc được gọi là “Chúa”, nhưng hài lòng với việc được gọi là “Cha”. Tất cả chúng ta đều là những đầy tớ, những tội nhân và những người con: Ngài là một người Cha.
Ngày hôm nay Chúa Giê-su nhắc nhớ chúng ta rằng, sự chờ đợi hạnh phúc vĩnh cửu không miễn trừ cho chúng ta bổn phận phải làm cho thế giới trở nên công bằng và đáng sống hơn. Trái lại, chính niềm hy vọng của chúng ta trước việc sẽ được sở hữu vương quốc vĩnh cửu, sẽ thôi thúc chúng ta ra công làm việc để cải thiện tình trạng cuộc sống dương thế, đặc biệt là cuộc sống của những người anh chị em yếu kém. Ước gì Đức Trinh Nữ Maria sẽ dậy cho chúng ta biết trở nên những con người và những cộng đoàn không bị cào bằng cho hiện tại, hay tồi tệ hơn là hoàn toàn luyến tiếc quá khứ, nhưng được hướng đến tương lai của Thiên Chúa, hướng đến cuộc gặp gỡ với Ngài, Đấng là sự sống và là niềm hy vọng của chúng ta.
Quảng trường Thánh Phê-rô trưa Chúa Nhật ngày mồng 07 tháng 08 năm 2016
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô
Lm. Đa-minh Thiệu – chuyển ngữ
Nguồn: Daminhtamhiep.net

Trau dồi sáu con đường để có được đức tính khiêm tốn

18:57 |
              “Khiêm tốn là nền tảng của tất cả mọi đức hạnh khác .”Thánh Âugutinô
Các thánh nói rất rõ ràng, khiêm tốn là nền tảng của tất cả mọi thăng tiến thiêng liêng. Nếu chúng ta không khiêm tốn, chúng ta không là thánh. Đơn giản là như thế. Nhưng biết đơn giản là vậy, nhưng thực hành lại không dễ. Sau đây là sáu phương pháp để trau dồi đức tính này.
  1. Cầu nguyện để xin được khiêm tốn
Mọi đức tính hình thành được trong tâm hồn chúng ta là nhờ cầu nguyện sốt sắng. Nếu thật sự bạn muốn khiêm tốn thì mỗi ngày bạn phải cầu nguyện để xin ơn này. Xin Chúa giúp bạn thắng tự ái của mình. Cha xứ D’Ars dạy:
Mỗi ngày, chúng ta hết lòng xin ơn khiêm tốn, ơn để hiểu chính chúng ta, chúng ta chẳng là gì và sự khỏe mạnh về tinh thần và thể xác của chúng ta là đến từ Chúa mà thôi.
  1. Chấp nhận sỉ nhục
Có thể đó là cách đau đớn nhất nhưng cũng là hiệu quả nhau để tập đức khiêm tốn, chấp nhận chịu những hoàn cảnh sỉ nhục và khó chịu. Linh mục Gabriel Thánh Maria Mađalêna giải thích: Rất nhiều linh hồn thích được khiêm tốn nhưng ít người muốn bị sỉ nhục. Rất nhiều người cầu nguyện sốt sắng xin Chúa cho họ khiêm tốn nhưng rất hiếm người mong muốn bị sỉ nhục. Dù vậy, không thể nào có khiêm tốn mà không bị sỉ nhục; vì, cũng như qua học hành chúng ta có được hiểu biết, thì qua con đường sỉ nhục, chúng ta mới có được khiêm tốn. Cho đến khi nào chúng ta mong muốn được khiêm tốn mà không sẵn sàng chấp nhận các phương tiện dẫn đến nó, thì chúng ta chưa thật sự đi đúng đường. Dù, trong một vài trường hợp, chúng ta hành động khiêm tốn, nhưng có thể đó là kết quả của một sự khiêm tốn giả tạo, bề ngoài hơn là một lòng khiêm tốn đích thực và sâu đậm. Khiêm tốn là sự thật; và vì, chúng ta không tự mình chiếm giữ một cái gì ngoài tội, nên chúng ta nhận sỉ nhục và khinh khi là đúng lý.
  1. Vâng lời bề trên
Một trong những thể hiện hiển nhiên nhất của tính kiêu ngạo là không vâng lời. Nghịch lý là, không vâng lời và phản loạn là những đức tính lớn mà xã hội Phương Tây hiện đại cao rao nhất. Sự sa ngã của Satan là do tính kiêu ngạo của nó: “Tôi sẽ không phục vụ” (Non serviam).
Mặt khác, tính khiêm tốn luôn thể hiện bằng sự vâng lời bề trên, dù bề trên đó là ông chủ của mình hay chính quyền. Như Thánh Bênêđictô đã nói:
Mức độ khiêm tốn đầu tiên là vâng lời không chậm trễ.
  1. Coi chừng chính mình
Các thánh nói cho chúng ta biết, nếu chúng ta coi chừng chính mình và chỉ đặt lòng tin vào chỉ một mình Chúa thì chúng ta sẽ không bao giờ phạm một tội nào. Thậm chí Cha Lorenzo còn nói:
Coi chừng mình là thiết yếu trong cuộc chiến đấu thiêng liêng. Không có đức tính này, chúng ta không hy vọng thắng được các đam mê dù yếu nhất và lại càng khó mang về chiến thắng.
  1. Nhận biết chúng ta chẳng là gì
Một phương pháp rất hiệu quả khác là vun trồng đức tính khiêm tốn, chiêm niệm tầm cao cả và huy hoàng của Chúa, cùng một lúc nhận biết sự hư không của chúng ta đối với Ngài. Cha xứ d’Ars khẳng định rằng:
Ai có thể chiêm ngưỡng sự bao la vô tận của Chúa mà không khiêm tốn trong cát bụi, rằng Chúa tạo dựng trời đất từ không có gì? Và Ngài có thể biến trời đất thành hư không qua chỉ một lời? Thiên Chúa cao cả; sự toàn năng của Ngài là vô tận. Ngài là sự toàn hảo và sự vĩnh cửu của Ngài là vô cùng. Sự công chính và quan phòng của Ngài thật lớn vô cùng. Ngài cai trị với bao là khôn ngoan và chú tâm với bao là chăm lo. Đứng trước mặt Ngài, chúng ta chẳng là gì!
  1. Xem người khác cao hơn mình
Khi chúng ta kiêu ngạo, không tránh được chúng ta nghĩ mình hơn người khác. Chúng ta cầu nguyện như người pharisêu: “Lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vì con không như người khác .” Sự tự thỏa mãn này thường vô cùng nguy hiểm cho tâm hồn chúng ta, và nó là một ghê tởm đối với Chúa. Các sách thánh và các thánh đều khẳng định chỉ có con đường chắc chắn là xem người khác hơn mình. “Đừng làm gì vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình “, Thánh Phaolô đã khẳng định (Pl 2, 3).
Thomas a Kempis tóm tắt lời huấn dạy này trong chương 7 của quyển sách “Bắt chước gương Chúa Giêsu”:
Bạn đừng cho mình hơn người khác; có thể dưới mắt Chúa bạn xấu hơn, ai biết cái gì trong con người. Đừng kiêu ngạo về những việc làm tốt của mình, vì phán xét của Chúa thì khác với phán xét của loài người, cái gì làm hài lòng con người thì thường không làm Chúa hài lòng. Nếu có một cái gì tốt nơi bạn, thì hãy nghĩ là nơi người khác còn có những cái tốt hơn để mình giữ lòng khiêm tốn. Bạn không liều gì khi thấp hơn tất cả các người khác, nhưng bạn sẽ rất có hại nếu bạn thích chỉ thấp hơn một người. Người khiêm tốn vui vì có bình an bền vững, giận dữ và ham muốn làm vẫn đục tâm hồn người kiêu ngạo.
Kết luận
Không nghi ngờ gì về vấn đề này: Khiêm tốn là nền tảng của mọi đời sống thiêng liêng. Không có đức tính này, chúng ta sẽ không bao giờ thăng tiến trên con đường thánh thiện. Dù vậy, khiêm tốn không phải là một khái niệm trừu tượng để chiêm ngưỡng. Đó là một đức tính cần phải học, phải trau dồi và thường là trong những hoàn cảnh đau đớn, bắt chước Chúa Giêsu Kitô “Đấng tự hạ mình, Đấng dùng hình thức nô lệ để nên giống loài người .”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Tôi Yêu Thập Giá Đời Tôi

06:41 |
Sống đời con Chúa chỉnh tề,
Cha tôi thương quá, vỗ về sớm hôm.
Hôm nay có ngọn gió nồm,
Thổi vào tâm thức gọi hồn ăn năn.
Đức Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13, 9).
Thầy Chí Thánh mời gọi chúng ta hãy bước theo Thầy, sống với Thầy để làm nhân chứng tình yêu của Thiên Chúa.
Trên đời này chúng ta không có thành trì bền vững vì thế gian vạn sự qua. Chúng ta là những con người đặt niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô luôn ca vang: “Cùng quyết theo đường Chúa, phụng sự Thiên Chúa dấn thân cho niềm tin”.
Người Ki-tô hữu trưởng thành,
Say mê Lời Chúa trung thành sống ngoan.
Vai mang Thập Tự lo toan,
Cùng Thầy chung bước hân hoan ngày về.
Tình yêu mến Chúa Giêsu là môn học trên đường gian khổ. Lời Chúa: “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy”.
Vai mang Thập Tự sớm mai,
Vui mừng vươn thẳng, hoà hài yêu thương.
Theo Thầy hết phải lạc đường,
Cao đưa Thập Giá lên hương cuộc đời.
Tình yêu đáp trả tình yêu, vác Thập Giá chiến thắng với chính mình. Thánh Phaolô khuyên nhủ Kitô hữu hãm mình, không nô lệ bản thân: “Chúng ta hãy ăn ở đứng đắn, như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh  em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13, 13-14).
Tình yêu Thiên Chúa tơ vương,
Vẫn thương, vẫn đợi, vấn vương loài người.
Khóc thầm luyến tiếc ngày trôi,
Lắng nghe đáp trả lời mời Giê-su.
Lạy Chúa con yêu mến Chúa vai mang Thánh Giá đời mình tiến lên. Thập giá của bổn phận với ơn gọi của mình đã chọn, điều đó không tránh khỏi. Ta phải lê gót cất bước cho đến cùng; với nguồn ơn thánh Chúa giúp, ta có thể an bình vui sống chịu đựng vì đó là thập giá có tình yêu. Khi gặp đau khổ, nhìn lên thập giá Chúa Giêsu để nghe Ngài thầm nhủ: “Ơn Thầy sẽ đủ cho con” (2 Cor 12, 9).
Lạy Chúa, theo tự nhiên con đâu muốn thập giá vì thập giá làm con mang thương tích. Nhưng Chúa đã ngã và trỗi dậy để dạy con: “Muốn theo Thầy con phải vác thập giá mình mà theo” vì không có con đường nào khác. Hình ảnh Chúa Giê-su hiện rõ nét trong tâm hồi tôi, đầu thì gai nhọn gắm sâu, vai thì vác thanh gỗ nặng với hai tay đang ghì chặt không buông. Tiếng Thầy vang vọng: Thập giá tự nó không phải là con đường tình yêu, vì thế mọi người đều chạy trốn;  nhưng Thầy đã tiến lại và vác lên để thập giá để trở thành Thập giá với chữ hoa vì có tình yêu mỗi khi tin Thầy đang chung vác với con.
Tình thương Thiên Chúa bao la,
Đời ta không thể trầm kha vong hồn.
Trở về quyết chí bảo tồn,
Ẩn trong tình Chúa, ca luôn yêu Ngài.
Vì sao Chúa chọn thập giá hào quang, nhìn Thầy lê bước, tâm con bồi hồi. Thập giá nặng trĩu thương đau vất vã, Chúa lê bước trong đơn côi buồn tủi, ngã một lần, Chúa vẫn đứng lên, lê buớc nữa, nhìn tình yêu cay đắng, lần hai lại ngã, nằm lâu, chúng đá, chúng đạp mình Thầy nát tan. Lần ngã cuối cùng, ôi đau đớn quá, nhưng rồi cũng đến được đồi Can-vê…
Gẫm suy con đường thập tự Chúa đã đi xưa, biết bao sỉ nhục đau thương tủi buồn, một mình lê gót đoạn trường Can-vê, nêu gương cho người thế soi chung, để ta đón nhận thập giá đời ta, mang đầy hy vọng như Lời Thầy Chí Thánh: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, không xứng đáng là môn đệ Ta”.
Người Kitô hữu phải vác thập giá  làm nhân chứng, gieo vãi hạt giống Tin Mừng khắp nơi. Như chính Đức Giêsu đã trao phó nhiệm vụ cao cả cho các môn đệ, những người theo Người: “Anh em hãy là nhân chứng cho Thầy đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8).
Con xin vác hết đường dài,
Nhìn lên trời thẳm van nài cậy trông.
Trăng thanh huyền nhiệm mênh mông,
Ngàn sao lấp lánh chạnh lòng đơn côi.
Tim con dấu ấn tình thương, mối tình Con Chúa tơ vương loài người. Chúa ơi! Con đã hiểu rồi, Giê-su Thập Tự cho đời bình an. Cho dù đời lắm chông gai, con vẫn muốn làm muôn đệ Ngài.
Nam Giao