Cám dỗ đời tu và cách chữa trị

18:54 |
Đời sống Thánh hiến được định nghĩa là một cuộc nhập thế giữa lòng đời. Tu sĩ là những con người không thuộc về thế gian, nhưng sống trong thế gian và chịu ảnh hưởng của thế gian. Thế gian ở đây là cộng đồng nhân loại, là tất cả những gì đang diễn ra trong thế giới hôm nay – một thế giới đang chứng kiến những đổi thay đến chóng mặt trên tất cả các lãnh vực của đời sống xã hội. Những thay đổi ấy đang từng ngày từng giờ tác động một cách mạnh mẽ vào đời sống tu trì, nhất là trong lãnh vực đời sống thiêng liêng. Nó mang đến cho đời thánh hiến một làn gió mới, nhưng đồng thời cũng là một thách đố lớn lao đối với những ai đang dấn thân cho lý tưởng tu trì.
Chúng ta biết rằng: đời sống thiêng liêng là linh hồn của đời tu trì, và cầu nguyện là hơi thở của đời sống tâm linh. Vì thế, nếu thiếu vắng cầu nguyện, đời tu sẽ mất hết giá trị và trở nên vô nghĩa. Khi ấy, người sống đời tu không thể trở nên ánh sáng cho trần gian, không thể nên muối ướp mặn cuộc đời và cũng không thể là men trong bột. Do đó, cầu nguyện là chìa khóa vạn năng giúp mở ra chân trời hạnh phúc và khóa lại những điều bất hạnh. Chính vì cầu nguyện quan trọng nên ma quỉ luôn tìm cách len lỏi vào những vị trí trọng yếu nhất, hòng phá đổ đời tu dưới mọi hình thức.
Trước hết, hiệu năng công việc là một cám dỗ dai dẳng và ngọt ngào nhất đối với đời sống thiêng liêng của người Thánh hiến. Thực tế cho thấy: đời sống thiêng liêng đang dần nhường chỗ cho các hoạt động Tông đồ. Giữa một cuộc sống phóng túng và tha hóa, người tu dường như để cho dòng đời cuốn trôi, biến họ trở nên những cỗ máy của công việc. Đi tu là chọn Chúa làm gia nghiệp, nhưng thay vì chọn Chúa, họ lại chọn công việc của Chúa. Vì chọn sai nên nhiều Tu sĩ trẻ bị lâm vào cuộc khủng hoảng Ơn gọi, đặc biệt trong thời gian thi hành sứ mạng Tông đồ. Đó đây không thiếu những Tu sĩ vì ham thành công đã bỏ bê cầu nguyện, ơ hờ khi tham dự Thánh lễ, Kinh Nhật tụng, cũng chẳng mấy thiết tha với việc Nguyện ngắm, Xét mình, lần chuỗi Mân Côi, đọc sách thiêng liêng, viếng Thánh Thể hay lãnh nhận các Bí tích… Người tu thường rao truyền cho thiên hạ về cầu nguyện, nhưng thực chất chính chúng ta lại chưa sống cầu nguyện. Nhiều Tu sĩ mới chỉ cầu nguyện trong những giờ nhất định mà bỏ quên tinh thần cầu nguyện liên lỉ suốt ngày. Cơn cám dỗ hiệu năng thúc đẩy chúng ta viện cớ này, cớ kia để tự chước chuẩn cho mình những bổn phận thiêng liêng; hoặc chúng ta cầu nguyện một cách nhanh gọn; hoặc dồn tất cả việc thiêng liêng vào những giây phút cuối ngày sau khi thân xác đã mệt mỏi rã rời… Từ đó, những xác tín về đời sống thiêng liêng mờ nhạt dần, rồi Chủ nghĩa dửng dưng thắng thế, người tu dễ dàng quên đi sự hiện diện của Thiên Chúa, để rồi còn lại sau đó là sự lạnh nhạt, hững hờ.
Đi đôi với cơn cám dỗ của Chủ nghĩa hiệu năng ta còn phải kể đến những thách đố của khuynh hướng hưởng thụ. Đây cũng là một vật cản không nhỏ giăng bẫy đời sống tâm linh của mỗi người tu sĩ chúng ta. Thật thế, ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, với sự bùng nổ của phương tiện truyền thông tốc độ cao. Một mặt, nó giúp người tu mở rộng tầm mắt ra thế giới xung quanh, và cho họ tiếp cận với những loại hàng hóa đa dạng về chủng loại và mẫu mã, với đầy đủ các chức năng để giải trí, làm việc… Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển này là làm cho chúng ta dễ dàng rơi vào cơn cám dỗ triền miên của thái độ sống hưởng thụ vật chất. Người tu mải mê với các phương tiện mà không còn thiết tha với việc cầu nguyện, không tìm được hứng thú và niềm vui khi gặp gỡ Thiên Chúa. Thay vào đó, họ lặng lẽ đi vào vòng xoáy của hưởng thụ vật chất nhằm thỏa mãn những đam mê trần tục của mình.
Bên cạnh đó, thế giới ngày nay có quá nhiều tiếng ồn ào. Sự tĩnh lặng, trầm lắng xem ra vô bổ và xa xỉ đối với nhiều Tu sĩ trẻ. Họ tìm cách giải khuây và bị hấp dẫn bởi nhịp sống sôi động của âm nhạc, quảng cáo, video, truyền thanh, truyền hình. Một cơn lốc mãnh liệt của sự ồn ào xé tan bầu khí thinh lặng của đời tu trì. Người tu thích nói, thích hàn huyên tâm sự, thích trao đổi thông tin với nhau hơn là đi vào sa mạc để gặp gỡ Thiên Chúa. Họ thích tìm niềm vui chóng qua bên ngoài để giải tỏa sau những giờ phút học tập và làm việc căng thẳng hơn là đến với Chúa để được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Nhiều Tu sĩ trẻ ưa thích nhịp sống ồn ào và cảm thấy chán ngán khi phải thinh lặng. Vì thế, thật khó khăn cho việc cầu nguyện khi tâm hồn người tu không hề có một khoảng lặng nào dành cho Thiên Chúa. Sự ồn ào chính là con sâu gặm nhấm đời sống cầu nguyện của người tu trì.
Ngoài ra, xung đột trong đời sống chung cũng là một cám dỗ cho sự thăng tiến đời sống thiêng liêng của người tu trì. Chúng ta biết rằng: đời sống chung chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển của đời sống tâm linh. Thực tế cho thấy: trong Cộng đoàn có những trường hợp sống bên nhau, cùng ăn, cùng uống, cùng sinh hoạt với nhau nhưng lại không có được những tương giao cần thiết. Trong Cộng đoàn, một cám dỗ rất lớn là muốn loại trừ những khác biệt, muốn nắn đúc người khác theo hình ảnh của mình, muốn cho mình là khuôn mẫu để người khác phải sống theo. Các thành viên trong Cộng đoàn chưa biết nghe, biết nói, biết hiểu và biết đón nhận vấn đề của nhau, nên những xung khắc, bất hòa, chia rẽ vẫn còn ngự trị. Khi tâm hồn chúng ta bất an, chúng ta khó có thể cầu nguyện sốt sắng được. Do đó, những bất hòa trong Cộng đoàn chính là một thách đố lớn lao trong hành trình tâm linh của người tu trì.
Tuy nhiên, tất cả những vật cản nêu trên đây cũng chỉ là những tác nhân bên ngoài, trở ngại lớn lao và quan trọng hơn cả lại khởi đi từ chính nội tâm mỗi người. Thành ra, Nguyễn Bá Học đã viết: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông”. Quả thế, nguyên nhân làm cho việc cầu nguyện của chúng ta trở nên sa sút khởi đi từ chính cá nhân mỗi người. Người tu nhất là tu sĩ trẻ đang lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về căn tính. Bởi lẽ, chúng ta biết rằng: Căn tính đời sống thánh hiến là bước theo Chúa Kitô (Sequela Christi), chọn Chúa là người bạn trăm năm để suốt đời chung thủy với Ngài. Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Đời tu hôm qua, hôm nay và muôn thế hệ vẫn là bước theo Chúa Kitô. Do đó, đây là tiêu chuẩn tối hậu của đời Thánh hiến. Thế nhưng, người tu chúng ta nhiều khi lại chưa ý thức rõ ràng căn tính đích thực của mình, chưa thực sự dâng hiến trọn vẹn tâm hồn và thân xác cho Thiên Chúa. Họ chơi vơi giữa dòng đời mà không biết lý tưởng của mình là gì? mình đang theo ai? đang sống thế nào? và phải làm gì để thăng tiến đời sống ấy? Đó chính là những câu hỏi còn đang bỏ ngỏ và cần những lời giải đáp sao cho thấu lý, đạt tình.
Trước hết, để có thể vươn lên trong đời sống thiêng liêng, chúng ta hãy tập luyện cho mình thái độ kiên trì. Thái độ ấy cần thiết ngay cả khi chúng ta cảm thấy khô khan và lời cầu nguyện của chúng ta không được Thiên Chúa nhận lời. Thành ra, ngoài những giờ phút cầu nguyện chung với Cộng đoàn, chúng ta cần thiết phải tìm cho mình những giây phút cô tịch và an tĩnh. Bởi lẽ, Thiên Chúa không bao giờ phán bảo điều gì ở nơi huyên náo, nhưng chỉ trong thinh lặng, chúng ta mới có thể lắng nghe tiếng Ngài mà thôi. Do đó, mỗi người hãy năng đến gặp gỡ Chúa trong Thánh Thể, kéo dài các giờ cầu nguyện cá nhân, chuyên cần suy niệm Lời Chúa mỗi ngày, và dành giờ kiểm điểm đời sống. Chúng ta hãy kiên trì và bắt đầu lại mỗi ngày, nhất là luôn trung thành với thời gian biểu thiêng liêng đã đề ra. Nói như thế không có nghĩa là ta chỉ gặp gỡ Chúa trong những giờ nhất định, nhưng là liên lạc với Ngài mọi lúc mọi nơi: khi vui cũng như khi buồn; khi thành công cũng như khi thất bại; khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi…
Tuy nhiên, để tăng triển trong đời sống thiêng liêng, sự kiên nhẫn không thôi chưa đủ, chúng tacần thiết phải nhờ đến những vị linh hướng. Họ có thể là các Linh mục, các Bề trên, hoặc những anh chị em đã có kinh nghiệm trong đường tu và đường đời. Giống như Samuel, cậu bé phải cần đến thầy Hêli để có thể nhận ra tiếng Chúa. Thành ra, mỗi chúng ta cũng hãy đặt niềm tin tưởng nơi các vị linh hướng của mình. Nhờ tác động của Thánh Linh, họ sẽ có khả năng nâng đỡ, đồng hành mỗi khi chúng ta gặp thử thách trong Ơn gọi. Đó là đường lối sư phạm thiêng liêng tuyệt vời mà Thiên Chúa tặng ban cho những ai muốn nên nghĩa thiết với Ngài.
Mặt khác, như đã nói ở trên: những xung khắc trong đời sống Cộng đoàn cũng là một vật cản không nhỏ trong hành trình tâm linh. Thành ra, để có thể cầu nguyện sốt sắng, chúng ta hãy khởi đi từ việc thăng tiến đời sống huynh đệ trong Cộng đoàn. Mỗi tu sĩ hãy tập sống tinh thần hiệp nhất, yêu thương để biến Cộng đoàn thành “nơi hạnh phúc, chốn an vui”. Vì chỉ khi tâm hồn bình an, những khúc mắc trong đời tu mới có cơ may được hòa giải. Chúng ta không thể nào cầu nguyện bao lâu chúng ta còn mải mê gặm nhấm những vết thương. Hơn nữa, chúng ta cũng không thể hiệp nhất với Đức Kitô là Đấng vô hình, bao lâu chúng ta chưa hiệp nhất với anh chị em là người sống kề cận bên ta hàng ngày. Do đó, mỗi người hãy biết trân trọng, cảm thông và đón nhận nhau trong sự yêu thương và tha thứ. Khi đó, đời sống huynh đệ không còn là gánh nặng, nhưng lại là đòn bẩy và là nhịp cầu dẫn ta đến gặp gỡ Thiên Chúa.
 Đặc biệt, chúng ta cần ý thức rằng: Chúa Thánh Thần chính là tác giả và là Thầy hướng dẫn chúng ta trong hành trình tiến đến gặp gỡ Thiên Chúa. Ngài sẽ luôn đồng hành và gia tăng sức mạnh để chúng ta vượt qua những cám dỗ gặp phải trong đời sống thiêng liêng. Điều quan trọng là chúng ta phải sống tinh thần đơn sơ, khiêm nhường và tín thác vào Chúa. Chúng ta cũng hãy biết khơi cạn tâm hồn để tình yêu Chúa lấp đầy cuộc đời chúng ta. Mỗi người hãy biết trở nên những con người trắng tay để chúng ta là không và Thiên Chúa là tất cả.
Điều quan trọng trên hết đòi hỏi mỗi người tu sĩ là phải huấn luyện chính mình để trở thành những tu sĩ trưởng thành. Luật sống chính là “khuôn vàng thước ngọc”, là ngọn hải đăng chỉ đường, là lan can che chắn để chúng ta bước đi vững vàng trong Ơn gọi. Dẫu biết rằng: Đời nội tâm và đời hoạt động Tông đồ là hai bánh lái của một con thuyền, nhưng rốt cuộc “đời hoạt động lại chỉ là phần dư dật của đời sống nội tâm” mà thôi. Cũng vậy, công việc của Mátta quan trọng thật, nhưng Đức Giêsu đã khen ngợi Maria, vì cô đã biết chọn phần tốt hơn. Thành ra, chúng ta hãy cố gắng rèn luyện bản thân, can đảm và sáng suốt chọn lựa xem cái gì quan trọng và cần thiết nhất trong cuộc đời. Nếu không, một lúc nào đó, cuộc đời sẽ quay lại để xô đẩy và vùi lấp chúng ta. Để làm được điều đó, mỗi người hãy luôn biết cộng tác với ơn Chúa, gắn bó với Ngài trong cầu nguyện và chiêm niệm. Nhờ đó, dẫu cho thời gian đắp đổi xoay vần, lòng người có thay trắng đổi đen, chúng ta vẫn đứng vững với thái độ “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”.
 Đôi dòng trên đây là góp nhặt những suy tư, những kinh nghiệm thực tế của bản thân đã từng trải trong đời Thánh hiến. Có thể đó là những kinh nghiệm rất đơn sơ của một người xem ra còn non nớt về đường tu và vắn vỏi về đường đời, nhưng dẫu sao tác giả vẫn hy vọng có thể góp thêm chút hành trang bé nhỏ cho hành trình thiêng liêng của những ai đang rong ruổi trên đường lữ hành. Đây cũng là cơ hội quý giá để mỗi người nhìn lại Ơn gọi của mình, thấy được những mong manh yếu đuối của phận người trong kiếp nhân sinh. Nhờ đó, mỗi người biết luôn gắn chặt đời mình với Thiên Chúa, để nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, chúng ta có thể tiến về Núi Thánh trong tình yêu, niềm tin và hy vọng.
  Tâm Thành
Nguồn: Mtgthuduc.net

Sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi Ngày Hoà Bình Quốc Tế 2016

05:54 |
Ngày 15 tháng 12 vừa qua Phòng Báo Chí Toà Thánh đã tổ chức cuộc họp báo giới thiệu Sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi Ngày Hoà Bình Thế Giới 2016 về đề tài “Hãy chiến thắng dửng dưng và chinh phục hoà bình”. Sứ điệp đề ngày mùng 8 tháng 12 gồm 8 đoạn. Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị nội dung sứ điệp. Mở đầu sứ điệp ĐTC viết:
1. “Thiên Chúa không dửng dưng! Đối với Thiên Chúa Nhân loại quan trọng, Thiên Chúa không bỏ rơi nó! Bắt đầu năm mới với xác tín sâu thẳm này của mình tôi muốn kèm theo các lời cầu chúc phước lành và hoà bình tràn đầy, trong dấu chỉ của niềm hy vọng, cho tương lai của từng người nam nữ, của từng gia đình, dân tộc và quốc gia trên thế giới, cũng như cho các Quốc Trưởng và Chính Quyền và Giới Lãnh Đạo tôn giáo. Thật thế, chúng ta không mất hy vọng rằng năm 2016 trông thấy chúng ta tất cả dấn thân một cách cương quyết và mạnh mẽ, trên mọi bình diện, để thực hiện công lý và hoạt động cho hoà bình. Phải, hoà bình là món quà của Thiên Chúa và là công trình của con người. Hoà bình là ơn của Thiên Chúa, nhưng được ủy thác cho tất cả mọi người nam nữ được mời gọi hiện thực nó.
2. Duy trì các lý do của niềm hy vọng
Các chiến tranh và hành động khủng bố, với các hậu quả thê thảm của chúng, các vụ bắt cóc người, các bách hại vì các lý do chủng tộc hay tôn giáo, các lạm dụng đã ghi dấu từ đầu tới cuối năm vừa qua gia tăng một cách đau đớn tại nhiều vùng trên thế giới, đến độ có các hình thể có thể gọi là “một đệ tam thế chiến từng mảnh”. Nhưng cũng có vài biến cố của các năm qua và của năm vừa qua mời gọi tôi, trong viễn tượng của năm mới, canh tân lời khích lệ đừng mất hy vọng nơi khả năng của con người, với ơn của Thiên Chúa, vượt thắng sự dữ và không buông xuôi cho thái độ chịu trận và thờ ơ. Các biến cố mà tôi muốn nhắc đến diễn tả khả năng của nhân loại hoạt động trong tình liên đới, vượt ngoài các lợi lộc cá nhân, sự vô cảm và dửng dưng trước các tình trạng nguy kịch.
Trong số các biến cố ấy tôi muốn nhắc tới nỗ lực tạo thuận tiện cho cuộc gặp gỡ của giới lãnh đạo thế giới trong bối cảnh của hội nghị COP 21, nhằm tìm ra các con đường mới giúp đương đầu với các thay đổi khí hậu và cứu vãn sức khỏe của Trái Đất, căn nhà chung của chúng ta. Và điều này quy chiếu về hai biến cố trước đó trên bình diện toàn cầu: đó là Hội nghị thượng đỉnh tại Addis Abeba nhằm quyên góp ngân qũy cho việc phát triển có thể chịu đựng nổi của thế giới; và việc Liên Hiệp Quốc chấp nhận Lịch trình 2030 cho việc phát triển có thể chịu đựng nổi, nhằm bảo đảm cho mọi người dân, nhất là cho các dân tộc nghèo của hành tinh, từ nay cho tới đó có một cuộc sống xứng đáng hơn.
Năm 2015 đã là một năm đặc biệt đối với Giáo Hội, cũng bởi vì Giáo Hội kỷ niệm 50 năm công bố hai tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II diễn tả một cách rất hùng hồn ý thức liên đới của Giáo Hội đối với thế giới. Khi khai mạc Công Đồng ĐGH Gioan XXIII muốn mở toang các cửa sổ của Giáo Hội để giữa Giáo Hội và thế giới có sự truyền thông rộng mở hơn. Hai tài liệu: Nostra aetate và Gaudium et Spes, là các diễn tả biểu hiệu cho tương quan mới của sự đối thoại, tình liên đới và đồng hành mà Giáo Hội cố ý đưa vào bên trong nhân loại. Trong Tuyên ngôn Nostra aetate Giáo Hội được mời gọi rộng mở cho việc đối thoại với các tôn giáo không kitô. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, từ lúc “các niềm vui, các hy vọng, buồn sầu và lo lắng của con người ngày nay, của người nghèo và nhất là của tất cả những người đau khổ, cũng là các niềm vui và các hy vọng, các buồn sầu và các âu lo của các môn đệ Chúa Kitô” (GS, 1), thì Giáo Hội đã ước mong thiết lập một cuộc đối thoại với gia đình nhân loại liên quan tới các vấn đề của thế giới, như dấu chỉ của tình liên đới và sự trìu mến tôn trọng (GS, 3).
Cũng trong viễn tượng này với Năm Thánh Lòng Thương Xót tôi muốn mời gọi Giáo Hội cầu nguyện và hoạt động để mọi tín hữu kitô có thể có một con tim chín mùi khiêm nhường và từ bi, có khả năng loan báo và làm chứng cho lòng thương xót, “tha thứ và cho đi”, rộng mở “cho những ai sống trong các vùng ngoại biên rải rác nhất của cuộc sống, mà thế giới tân tiến thường tạo ra một cách thê thảm”, không “rơi vào sự dửng dưng hạ nhục, không rơi vào thái độ quen nhờn làm tê liệt tâm trí và ngăn cản khám phá ra sự mới mẻ, không rơi vào thái độ vô liêm sỉ tàn phá.” (Misericordiae vultus, 14-15)
ĐTC viết tiếp trong sứ điệp: Có nhiều lý do giúp tin vào khả năng của nhân loại cùng nhau hành động trong tình liên đới, trong việc nhận ra sự nối kết giữa nhau và tuỳ thuộc nhau, bằng cách lo lắng cho các thành phần yếu đuối nhất, và cứu vãn thiện ích chung. Thái độ liên đới đồng trách nhiệm này là gốc rễ ơn gọi nền tảng cho tình huynh đệ và cho cuộc sống chung. Phẩm giá và các tương quan liên bản vị khiến cho chúng ta là người, được Thiên Chúa muốn là hình ảnh của Ngài và giống Ngài. Như là các thụ tạo được phú bẩm phẩm giá bất khả nhượng, chúng ta hiện hữu trong tương quan với các anh chị em khác, mà chúng ta có trách nhiệm đối với họ và chúng ta hành động trong tình liên đới với họ. Bên ngoài tương quan này, chúng ta sẽ ít là người hơn. Chính vì thế sự dửng dưng là một đe dọa đối với gia đình nhân loại. Trong khi chúng ta bước tới một năm mới, tôi muốn kêu mời tất cả mọi người thừa nhận sự kiện này, để chiến thắng dửng dưng và chinh phục hoà bình.
3. Vài hình thức dửng dưng
Chắc chắn rằng thái độ dửng dưng, của người đóng kín con tim để không chú ý tới tha nhân, của người nhắm mắt để không trông thấy điều chung quanh, hay tránh né để không bị dụng chạm bởi các vấn đề của người khác, định tính một loại người khá phổ biến và hiện diện trong mọi thời đại của lịch sử. Tuy nhiên, ngày nay nó đã vĩnh viễn vượt quá lãnh vực cá nhân để mang chiều kích toàn cầu, và tạo ra hiện tượng của “việc toàn cầu hóa sự dửng dưng”.
Hình thái thứ nhất của sự thờ ơ trong xã hội con người là sự dửng dưng đối với Thiên Chúa, từ đó cũng nảy sinh ra sự dửng dưng đối với tha nhân và với thụ tạo. Đây là một trong các hậu quả trầm trọng nhất của một chủ thuyết nhân bản giả dối, và của chủ thuyết duy vật thực tiễn, trộn lẫn với một tư tưởng duy tương đối và duy hư vô. Con người nghĩ rằng nó là tác giả của chính mình, của cuộc sống mình và của xã hội; nó cảm thấy tự đủ và không chỉ nhắm lấy mình thay thế Thiên Chúa, mà còn sống không cần tới Thiên Chúa nữa; hậu quả, nó nghĩ mình không nợ ai gì cả, ngoại trừ chính nó, và nó yêu sách chỉ có các quyền lợi mà thôi (Caritas in veritate. 43). Chống lại sự tự hiểu biết sai lầm này của con người, ĐGH Biển Đức XVI nhắc nhở rằng: không phải con người cũng không phải sự phát triển của nó có khả năng tự ban cho nó ý nghĩa cuối cùng của nó (Caritas in veritate, 16) ; và trước ngài Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã khẳng định rằng “không có chủ thuyết nhân bản đích thật nào cống hiến ý tưởng đích thật của cuộc sống con người, nếu không rộng mở cho Đấng Tuyệt Đối” (Populorum progresio, 42).
Sự dửng dưng đối với tha nhân mang nhiều bộ mặt khác nhau. Có người được thông tin rõ ràng, lắng nghe radio, đọc báo chí hay coi các chương trình truyền hình, nhưng làm một cách hâm hẩm, hầu như trong một điều kiện quen thuộc: những người này biết một cách mù mờ các thảm cảnh khiến cho nhân loại khổ đau, nhưng họ không cảm thấy bị lôi cuốn, họ không sống sự cảm thương. Đây là thái độ của người biết, nhưng có cái nhìn, tư tưởng và hành động hướng tới chính mình. Rất tiếc chúng ta phải ghi nhận rằng việc gia tăng các tin tức, chính trong thời đại chúng ta, tự nó không có nghĩa là gia tăng sự chú ý tới các vấn đề, nếu nó không được đi kèm bởi một sự rộng mở lương tâm trong nghĩa liên đới (Caritas in veritate, 19). Trái lại, nó có thể bao gồm một sự bão hoà làm tê liệt, và trong một mức độ nào đó, tương đối hoá tầm nghiêm trọng của các vấn đề. “Có vài người, một cách đơn sơ, lại vui mừng đổ lỗi cho người nghèo và các nước nghèo về các sự dữ của họ, với các tổng quát hoá không xóa bỏ được, và họ yêu sách tìm ra giải pháp trong một việc “giáo dục” trấn an và biến họ trở thành những người bị thuần hoá và vô hại. Điều này lại càng trở nên nhức nhối hơn, nếu các người bị loại trừ trông thấy bênh ung thư xã hội gia tăng là sự thối nát đâm rễ sâu trong nhiều nuớc – nơi các chính quyền, trong giới doanh thương và trong các cơ cấu – bất cứ ý thức hệ chính trị nào của giới lãnh đạo” (Evangelii gaudium, 60).
Trong các trường hợp khác, sự dửng dưng biểu lộ ra như là việc thiếu chú ý đối với thực tại chung quanh, đặc biệt đối với thực tại ở xa. Có vài người ưa thích không tìm kiếm, không hỏi thăm tin tức, và sống sự phong phú và thoải mái của họ, điếc trước tiếng kêu than của nhân loại khổ đau. Hầu như không nhận ra điều đó, chúng ta đã trở nên không có khả năng cảm thương những người khác, đối với các thảm cảnh của họ, chúng ta không chú ý lo lắng cho họ, làm như thể điều xảy ra cho họ là một trách nhiệm xa lạ đối với chúng ta, không thuộc bổn phận của chúng ta (Ibid. 54). “Khi chúng ta khỏe mạnh và cảm thấy thoải mái, chắc chắn chúng ta quên những người khác (đó là điều mà Thiên Chúa Cha không bao giờ làm), chúng ta không chú ý tới các vấn đề của họ, các khổ đau, và các bất công họ phải chịu… Khi đó con tim của chúng ta rơi vào sự dửng dưng: trong khi tôi tương đối khoẻ mạnh và thoải mái, tôi quên những người không khỏe mạnh” (Sứ điệp mùa chay 2015).
Khi sống trong một căn nhà chung, chúng ta không thể không tự hỏi về tình trạng sức khỏe của nó, như tôi đã làm trong Thông điệp Laudato si’. Sự ô nhiễm các nguồn nước và không khí, việc khai thác rừng già không phân biệt, việc tàn phá môi sinh thường là hậu quả của sự dửng dưng của con người đối với những người khác, bởi vì tất cả có tương quan với nhau. Cũng như thái độ hành xử của con người đối với thú vật ảnh hưởng trên các tương quan của nó với người khác (Laudato si’, 92), để không nói đến việc ai cho phép mình làm tại nơi khác điều họ không dám làm trong nhà họ (Ibid. 51).
Trong các trường hợp này và các trường hợp khác nữa, sự dửng dưng tạo ra thái độ khép kín và không dấn thân, và như thế nó kết thúc bằng việc góp phần vào sự vắng bóng hoà bình với Thiên Chúa, vói tha nhân và với thụ tạo.
4. Hoà bình bị đe dọa bởi sự dửng dưng toàn cầu hóa
Sự thờ ơ với Thiên Chúa vượt quá phạm vi nội tâm và tinh thần của bản vị riêng rẽ, và xâm lấn phạm vi công cộng xã hội. Như ĐTC Biển Đức XVI đã khẳng định, “có một nối kết mật thiết giữa việc vinh danh Thiên Chúa và hoà bình của con người trên trái đất” (Diễn văn trrước ngoại giao đoàn cạnh Toà Thánh 7-1-2013). Thật thế, “không có sự rộng mở siêu việt, con người dễ dàng trở thành mồi cho chủ thuyết duy tương đối và rồi sẽ khó mà hành động theo công lý và dấn thân cho hòa bình” (Ibidem.). Việc lãng quên và khước từ Thiên Chúa dẫn đưa con người tới chỗ không thừa nhận luật lệ cao hơn mình nữa, và chỉ lấy mình làm quy tắc, và chúng đã tạo ra sự tàn ác và bạo lực vô chừng mực (Biển Đức XVI, Phát biểu ngày liên tôn cầu nguyện cho công lý và hoà bình tại Assisi 27-10-2011).
Trên bình diện ca nhân và cộng đoàn sự thờ ơ đối với tha nhân, con đẻ của sự dửng dưng đối với Thiên Chúa, mang dáng vẻ của sự bất động và không dấn thân, chúng dưỡng nuôi việc kéo dài các tình trạng bất công và mất quân bình xã hội trầm trọng. Tới lượt mình chúng có thể dẫn đưa tới các xung đột, hay trong mọi trường hợp, làm nảy sinh ra một bầu không khí bất mãn có nguy cơ, mau hay chậm, bùng nổ thành bạo lực và bất an.
Trong nghĩa này sự dửng dưng và không dấn thân như hậu quả tạo thành một thiếu sót trầm trọng đối với bổn phận mà mỗi người phải đóng góp trong mức độ các khả năng của mình và của vai trò mình có trong xã hội, cho công ích, đặc biệt là cho nền hoà bình, là một trong các thiện ích quý báu nhất của nhân loại (Evangelii gaudium, 217-237).
Thế rồi, khi nó đụng chạm tới lãnh vực cơ cấu, thì sự dửng dưng đối với tha nhân, phẩm giá, các quyền nền tảng và sự tự do của họ, cộng với một nền văn hóa ghi đậm dấu lợi nhuận và chủ trương hưởng thụ, tạo thuận tiện và đôi khi biện minh cho các hành động và chính sách rốt cuộc tạo ra các đe dọa đối với hoà bình. Thái độ thờ ơ như thế cũng có thể đi đến chỗ biện minh cho vài chính sách kinh tế đáng phiền trách, làm sinh sôi nay nở các bất công, chia rẽ và bạo lực, nhằm đạt sự phong phú riêng tử hay của quốc gia. Thật vậy, không hiếm các dự án kinh tế và chính trị của con người nhắm mục đích chinh phục hay duy trì quyền bính và giầu sang, cả khi có chà đạp các quyền lợi và các đòi buộc nền tảng của người khác đi nữa. Khi các dân tộc thấy các quyền lợi sơ đẳng của họ như quyền có thực phẩm, nước uống, được săn sóc sức khỏe, hay có công ăn việc làm, bị khước từ, thì họ bị cám dỗ chiến hữu chúng bằng bạo lực (GS 59).
Ngoài ra, sự thờ ơ đối với môi sinh thiên nhiên, bằng cách tạo thuận tiện cho việc tàn phá rừng già, gây ô nhiễm và tạo ra các tai ương thiên nhiên, khiến cho toàn các cộng đoàn bị nhổ khỏi gốc rễ môi sinh của họ, cách cuỡng bách họ sống cảnh tạm bợ và bất ổn, tạo ra các nghèo túng mới, các tình trạng bất công mới bởi các hậu qủa tàn hại liên quan tới an ninh và hoà bình xã hội. Có biết bao nhiêu chiến tranh đã xảy ra và sẽ có biết bao nhiêu chiến cuộc khác sẽ bùng nổ vì thiếu các tài nguyên hay để đáp ứng đòi hỏi tài nguyên thiên nhiên vô độ?
5. Từ sự dửng dưng tới lòng thương xót: việc hoán cải con tim
Cách đây một năm trong sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới “Không còn là nô lệ nữa nhưng là anh em”, tôi đã nhắc tới hình ảnh kinh thánh đầu tiên của tình huynh đệ nhân loại, đó là hình ảnh của Cain và Abel (x. St 4,1-6) để lôi kéo sự chú ý trên sự kiện tình huynh đệ đầu tiên đã bị phản bội như thế nào. Cain và Abel là anh em. Cả hai đều phát xuất từ cùng một cung lòng, bình đẳng trong phẩm giá và được tạo dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa; nhưng tình anh em của họ bị bẻ gẫy. “Cain không những không chịu được em mình là Abel, mà còn giết em vì ghen tương nữa” (Sứ điệp Ngày Hoà Bình Thế Giới 2015, 2). Khi đó việc giết em trở thành hình thức của sự phản bội, và việc khưóc từ tình huynh đệ của Abel từ phiá Cain là sự đổ bể đầu tiên trong các tương quan gia đình của tình huynh đệ, liên đới và tôn trọng lẫn nhau.
Khi đó, Thiên Chúa can thiệp để mời gọi tinh thần trách nhiệm của con người đối với người đồng loại, y như Ngài đã làm khi Ađam và Evà, ông bà nguyên tổ. đã bẻ gẫy sự hiệp thông với Đấng Tạo Hóa. “Khi đó Chúa nói với Cain: “Abel em ngươi đâu rồi?”. Cain thưa: “Con không biết. Con là người canh giữ em con hay sao?”. Chúa phán: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất tiếng máu của em ngươi đang kêu tới Ta” (St 4,9-10).
Cain nói rằng mình không biết điều gì đã xảy ra cho em mình, rằng mình không phải là người canh giữ em. Anh ta không cảm thấy có trách nhiệm đối với sự sống của em, đối với số phận của em. Anh không cảm thấy bị liên lụy. Anh dửng dưng đối vói em mình, mặc dù họ được nối kết với nhau bởi nguồn gốc chung. Thật buồn biết bao! Thật là thảm cảnh huynh đệ, gia đình và nhân loại! Đó đã là biểu lộ đầu tiên của sự thờ ơ giữa anh em với nhau. Thiên Chúa, trái lại, không thờ ơ: máu của Abel có gia trị lớn dưới mắt Ngài và Ngài đòi Cain phải trả lẽ. Như thế Thiên Chúa tự vén mở ngay từ đầu như là Đấng chú ý tới số phận của con người. Sau này khi con cái Israel sống kiếp nô lệ bên Ai Cập, Thiên Chúa can thiệp và Ngài đã nghe tiếng họ kêu than vì các giám thị; “Thật thế, Ta biết các đau khổ của ngươi. Ta đã xuống để giải phóng ngươi khỏi bàn tay của Ai Cập và làm cho ngươi ra khỏi xứ sở ấy để đi về một xứ sở xinh đẹp và rộng rãi, về một xứ sở nơi chảy sữa và mật ong” (Xh 3,7-8). Thật là quan trọng ghi nhận các động từ miêu tả sự can thiệp của Thiên Chúa: Ngài quan sát, lắng nghe, hiểu biết, xuống, giải thoát. Thiên Chúa không dửng dưng. Ngài chú ý và hành động.
Cũng thế, trong Đức Giêsu Con Ngài, Thiên Chúa đã xuống giữa loài người, đã nhập thể và tỏ ra liên đới với nhân loại: “trưởng tử giữa nhiều em” (Rm 8,29). Ngài đã không hài lòng dậy dỗ dân chúng, mà cũng lo lắng cho họ nữa, đặc biệt khi trông thấy họ đói (x. Mc 6,34-44) hay không có công ăn việc làm (x. Mt 20,3). Cái nhìn của Ngài không chỉ hướng tới con người, mà cũng hướng tới cá biển, chim trời, cây cối lớn nhỏ; Ngài ôm trọn toàn thụ tạo trong vòng tay. Ngài trông thấy, chắc chắn rồi, nhưng không chỉ hạn chế vào việc này, bởi vì Ngài đụng chạm tới con người, nói chuyện với họ, hoạt động cho họ và làm ích cho người túng thiếu. Nhưng không chỉ như thế, Ngài còn để cho mình xúc động và khóc nữa (x. Ga 11,33-44). Và ngài hành động để chấm dứt sự khổ đau, buồn sầu, bần cùng và cái chết.
Chúa Giêsu dậy chúng ta thương xót như Thiên Chúa Cha (x. Lc 6,36). Trong dụ ngôn người Samaritano nhân hậu (x. Lc 10,29-37) Ngài tố cáo việc bỏ sót cứu giúp trước sự cấp thiết của tha nhân: “ông thấy và đi qua” (x. Lc 10,31.32). Đồng thời, qua thí dụ này, Chúa mời gọi các thính giả của Ngài, đặc biệt là các môn đệ của Ngài, học dừng lại trước các khổ đau của thế giới này để làm vơi nhẹ chúng, dừng lại trước các vết thương của người khác để chữa trị chúng, với các phương tiện họ có, bắt đầu từ thời gian, mặc dù có biết bao bận rộn. Thật vậy, sự dửng dưng thường tìm cớ: trong việc tuân giữ các điều luật nghi lễ, trong hàng đống việc phải làm, trong các đối kháng khiến cho chúng ta xa nhau, trong các thành kiến đủ loại ngăn cản chúng ta đến gần nhau.
Lòng thương xót là con tim của Thiên Chúa. Vì thế nó cũng phải là con tim của tất cả những ai tự nhận mình là chi thể của đại gia đình duy nhất của các con cái Ngài; một con tim dấn thân mạnh mẽ đập nhịp phẩm giá con người tại khắp mọi nơi phản ánh gương mặt của Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Ngài. Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta: tình yêu đối với tha nhân – khách ngoại kiều, người đau yếu, các tù nhân, người không nhà, cho tới cả kẻ thù, là thước đo Thiên Chúa dùng để phán xử các hành động của chúng ta. Số phận đời đời của chúng ta tuỳ thuộc vào đó. Thật không đáng ngạc nhiên, khi thánh Phaolô tông đồ mời gọi các kitô hữu Roma vui với người vui, khóc với người khóc (x. Rm 12,15) hay khuyên tín hữu Côrintô tổ chức các cuộc lạc quyên như dấu chỉ tình liên đới với các chi thể khổ đau của Giáo Hội (x. 1 Cr 16,2-3). Còn thánh Gioan thì viết: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”(1 Ga 3,17; x. Gc 2,15-16).
Đo đó tại sao lại là điều “định đoạt đối với Giáo Hội và tính cách đáng tin cậy của lời loan báo, việc Giáo Hội sống và đích thân làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và các cử chỉ của Giáo Hội phải thông truyền lòng thương xót để vào thấu trái tim con người và khiêu khích họ tìm ra con đường trở về với Thiên Chúa Cha. Sự thật đầu tiên của Giáo Hội là tình yêu của Chúa Kitô. Giáo Hội là tôi tớ và trung gian của tình yêu ấy nơi con người, tình yêu đi tới chỗ tha thứ và trao ban chính mình. Vì thế, nơi đâu có Giáo Hội hiện diện, thì ở đó lòng thương xót của Thiên Chúa Cha phải hiển nhiên. Nghĩa là trong các giáo xứ, cộng đoàn, hiệp hội và phong trào của chúng ta, bất cứ nơi nào có các kitô hữu, thì bất cứ ai cũng phải tìm được một ốc đảo của lòng thương xót (Misericordiae vulnus, 12).
Như vậy, cả chúng ta nữa cũng được mời gọi biến tình yêu, lòng trắc ẩn, thương xót và tình liên đới trở thành chương trình sống, trở thành một kiểu hành xử trong các tương quan với nhau (Ibid., 13). Điều này đòi hỏi việc hoán cải con tim: nghĩa là ơn của Thiên Chúa biến đổi con tim bằng đá của chúng ta thành con tim bằng thịt (x. Ed 36,26), có khả năng rộng mở cho tha nhân với tình liên đới đích thật. Thật thế, tình liên đới là điều nhiều hơn một “tình cảm của lòng trắc ẩn mơ hồ hay một mềm yếu hời hợt đối với các khổ đau của biết bao người gần xa (Sollecitudo rei socialis, 38). Tình liên đới là “sự quyết tâm vững vàng và kiên trì dấn thần cho công ích: hay cho hạnh phúc của tất cả mọi người và từng người, bởi vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm đối với mọi người” (Ibid.,), bởi vì sự trắc ẩn nảy sinh từ tình huynh đệ.
Được hiểu như thế, tình liên đới là thái độ luân lý đạo đức và xã hội, đáp trả lại một cách tốt nhất ý thức của lương tâm về các vết thương của thời đại chúng ta và về sự tuỳ thuộc lẫn nhau luôn luôn hiện hữu, đặc biệt trong một thế giới toàn cầu hóa, giữa cuộc sống của từng người và của cộng đoàn trong một nơi xác định và cuộc sống của các người nam nữ khác trên thế giới (Ibid.,).
6. Thăng tiến một nền văn hóa liên đới và thuơng xót để chiến thắng sự dửng dưng
Tình liên đới như nhân đức luân lý và thái độ xã hội, hoa trái của sự hoán cải cá nhân, đòi buộc một dấn thân từ phía đông đảo các chủ thể có trách nhiệm trong lãnh vực giáo dục và đào tạo.
Tư tưởng đầu tiên của tôi hướng tới các gia đình được mời gọi cho một sứ mệnh giáo dục đầu tiên và không thể khước từ được. Các gia đình là nơi chốn đầu tiên, trong đó người ta sống các giá trị của tình yêu thương, tình huynh đệ, việc chung sống, chia sẻ, sự chú ý và săn sóc người khác. Các gia đình cũng là môi trường đặc tuyển cho việc thông truyền đức tin, bắt đầu từ các cử chỉ đạo đức đơn sơ nhất, mà các bà mẹ dậy cho con cái (Ibid.,).
Liên quan tới các nhà giáo dục và đào tạo, trong trường học hay các trung tâm quy tụ khác của trẻ em và người trẻ, có bổn phận giáo dục chúng, họ được mời gọi ý thức rằng trách nhiệm của họ liên quan tới các chiều kích luân lý, tinh thần và xã hội của con người. Các giá trị của sự tự do, lòng tôn trọng lẫn nhau và tình liên đới có thể được thông truyền ngay từ tuổi còn thơ. Khi hướng tới các vị hữu trách của các cơ cấu có nhiệm vụ giáo dục, Đức Biển Đức XVI đã khẳng định rằng: “Mỗi một môi trường giáo dục có thể là nơi của sự rộng mở cho siêu việt và tha nhân: nơi của đối thoại, của sức mạnh nối kết và lắng nghe, trong đó người trẻ cảm thấy được đánh giá trong các tiềm năng và phong phú nội tâm, và học qúy chuộng các anh chị em khác. Ước chi nó có thể dậy cho biết nếm hưởng niềm vui nảy sinh từ việc từng ngày sống tình bác ái và trắc ẩn đối với người lân cận, và từ việc tham dự tích cực vào việc xây dựng một xã hội nhân bản và huynh đệ hơn” (Sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2012, 2).
Cả các người hoạt động văn hóa và truyền thông xã hội cũng có trách nhiệm trong lãnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong các xã hội ngày nay, trong đó việc sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông ngày càng phổ biến. Trước hết họ có nhiệm vụ phục vụ sự thật chứ không phải phục vụ các lợi lộc riêng tư. Thật thế, các phương tiện truyền thông “không chỉ thông tin, mà cũng đào tạo tinh thần các đối tượng của chúng nữa, và vì vậy có thể góp phần đáng kể vào việc giáo dục người trẻ. Thật là quan trọng chú ý tới tương quan rất chặt chẽ giữa giáo dục và truyền thông: thật thế, giáo dục đến qua truyền thông, nó ảnh hưởng một cách tích cực hay tiêu cực trên việc đào tạo con người” (Ibid.,). Các nhân viên văn hóa và truyền thông cũng phải canh chừng để kiểu tiếp nhận và phổ biến các tin tức của họ luôn được hợp pháp trên bình diện pháp lý và luân lý.
7. Hoà bình: hoa trái của một nền văn hoá liên đới, thương xót và trắc ẩn
Ý thức được sự đe dọa của một việc toàn cầu hóa sự dửng dưng, chúng ta không thể không thừa nhận rằng, trong bối cảnh như miêu tả trên đây, cũng có nhiều sáng kiến và hoạt động tích cực làm chứng cho sự trắc ẩn, lòng thương xót và tình liên đới mà con người có khả năng làm được. Tôi muốn nhắc tới vài thí dụ dấn thân đáng ca ngợi chứng minh cho thấy làm sao mỗi người có thể chiến thắng sự thờ ơ, khi lựa chọn không rời cái nhìn khỏi người lân cận của mình, và chúng có thể trở thành các thực hành tốt trên con đường tiến tới một xã hội nhân bản hơn.
Có biết bao nhiêu tổ chức phi chính quyền và các nhóm bác ái, bên trong cũng như bên ngoài Giáo Hội, mà các thành viên, trong các dịp dịch tễ, thiên tai hay xung khắc vũ trang, đương đầu với các mệt nhọc và nguy hiểm để săn sóc những người bị thương và các bệnh nhân, và để chôn cất các người đã chết. Bên cạnh họ tôi muối nhắc đến những người và những hiệp hội cứu giúp các người di cư băng qua các sa mạc và biển cả để đi tìm các điều kiện sống tốt đẹp hơn. Các hoạt động này là các công tác của lòng thương xót thể lý và tinh thần, dựa trên đó chúng ta sẽ bị phán xử vào cuối cuộc sống của mình.
Tôi cũng nghĩ tới các nhà báo và các chuyên viên chụp hình thông tin tức cho dư luận công cộng liên quan tới các tình hình khó khăn gọi hỏi lương tâm, và tất cả những người dấn thân bảo vệ các quyền con người, bảo vệ các phụ nữ và trẻ em, và tất cả những ai sống trong các điều kiện dễ bị tổn thương hơn. Giữa những người đó cũng có các linh mục và thừa sai, như là các mục tử nhân lành, các vị ở lại bên cạnh tín hữu và nâng đỡ họ mặc cho các hiểm nguy và khó khăn, đặc biệt trong các cuộc xung đột vũ trang.
Thế rồi còn có biết bao nhiêu gia đình dấn thân một cách cụ thể để giáo dục con cái họ “đi ngược dòng”, sống các giá trị của tình liên đới, sự cảm thương và tình huynh đệ, với giá của biết bao nhiêu hy sinh, tuy phải sống giữa biết bao khó khăn về công ăn việc làm và xã hội. Biết bao nhiêu gia đình rộng mở con tim và cửa nhà cho nhũng ai sống trong cảnh thiếu thốn, như các người tỵ nạn và di cư! Tôi muốn cám ơn một cách đặc biệt tất cả các người, các gia đình, các giáo xứ, các cộng đoàn dòng tu, các đan viện và các trung tâm hành hương đã mau mắn đáp trả lời tôi kêu gọi tiếp đón một gia đình tỵ nạn (Kinh Truyền Tin 6-9-2015).
Sau cùng, tôi muốn nhắc tới các người trẻ hiệp nhất với nhau để thực hiện các dự án liên đới, và tất cả những người mở rộng đôi tay trợ giúp người bên cạnh thiếu thốn: trong các thành phố, trong quê hương mình hay trong các vùng miền khác trên thế giới. Tôi muốn cám ơn và khích lệ tất cả những ai dấn thân trong các hành động loại này, cả khi họ không được quảng cáo: sự đói khát công lý của họ sẽ được no thoả, lòng thương xót của họ sẽ khiến cho họ tìm được xót thương và như là các tác nhân hoà bình, họ sẽ được gọi là con cái của Thiên Chúa (x. Mt 5,6-9).
8. Hoà bình trong dấu chỉ của Năm Thánh Lòng Thương Xót
Trong tinh thần của Năm Thánh Lòng Thương Xót, mỗi người được mời gọi nhận ra sự thờ ơ được biểu lộ trong cuộc sống của mình như thế nào, và lựa chọn một dấn thân cụ thể để góp phần cải tiến thực tại trong đó mình đang sống, bắt đầu từ gia đình mình, từ xóm giềng của mình hay từ môi trường làm việc.
Cả các Quốc gia cũng được mời gọi có các cử chỉ cụ thể, có các hành động can đảm đối với các người giòn mỏng nhất của xã hội, như các tù nhân, người di cư, người thất nghiệp và người đau yếu.
Liên quan tới các tù nhân, trong nhiều trường hợp xem ra cấp thiết áp dụng các biện pháp cụ thể giúp cải tiến các điều kiện sống của họ trong các nhà tù, bằng cách cho phép chú ý đặc biệt tới những người bị mất tự do trong khi chờ đợi được xét xử, lưu tâm tới mục đích tái giáo dục của hình phạt, và lượng định khả thể đưa vào trong luật pháp quốc gia các hình phạt thay thế cho việc giam giữ trong nhà tù. Trong bối cảnh ấy tôi ước ao canh tân lời kêu gọi các giới chức chính quyền quốc gia huỷ bỏ án tử hình, tại nơi đâu nó còn hữu hiệu và duyệt xét lại khả thể của một cuộc ân xá.
Liên quan tới các người di cư, tôi muốn đưa ra một lời mời gọi suy tư trở lại các luật lệ về di cư, để chúng được linh hoạt bởi ý chí tiếp đón, trong sự tôn trọng hỗ tương các nhiệm vụ và trách nhiệm, và có thể tạo dễ dàng cho việc hội nhập của các người di cư. Trong viễn tượng này phải có một sự chú ý đặc biệt đối với các điều kiện di trú của người di cư, bằng cách nhớ rằng sự lén lút có nguy cơ lôi kéo họ tới tội phạm.
Ngoài ra tôi cũng ước mong trong Năm Thánh này đưa ra một lời kêu gọi cấp bách giới hữu trách các quốc gia có các cử chỉ cụ thể đối với các anh chị em khổ đau vì thiếu công ăn việc làm, đất đai và nhà ở. Tôi nghĩ tới việc tạo ra các chỗ làm việc xứng đáng để chống lại tệ nạn xã hội của sự thất nghiệp, đả thương nhiều gia đình và người trẻ và có các hậu quả rất nghiêm trọng liên quan tới điều kiện sống của toàn xã hội. Sự thiếu công ăn việc làm tấn kích một cách nặng nề ý thức về phẩm giá và niềm hy vọng, và chỉ có thể được bù trừ phần nào bởi các liên đới cần thiết dành cho nhũng người thất nghiệp và gia đình họ. Một sự chú ý đặc biệt cần phải dành cho phụ nữ – rất tiếc còn bị kỳ thị trong lãnh vực công ăn việc làm – và cho vài tầng lớp công nhân, có các điều kiện bấp bênh hay nguy hiểm và có đồng lương không tương xứng với tầm quan trọng sứ mệnh xã hội của họ.
Sau cùng tôi muốn mời gọi có các hoạt động hữu hiệu giúp cải tiến các điều kiện sống của các bệnh nhân, bằng cách bảo đảm cho tất cả được săn sóc y khoa và có thuốc men cần thiết cho sự sống, bao gồm cả việc được săn sóc tại gia.
Khi hướng cái nhìn vượt ngoài các ranh giới của mình, giới hữu trách các quốc gia cũng được mời gọi canh tân các tương quan với các dân tộc khác, bằng cách cho phép tất cả mọi người thực sự tham gia và bao gồm vào cuộc sống của cộng đồng quốc tế, hầu thể hiện tình huynh đệ cả bên trong gia đình quốc gia nữa.
Trong viễn tượng này, tôi ước mong đưa ra một lời kêu gọi gồm ba điều: đừng lôi cuốn các dân tộc khác vào các cuộc xung đột hay các chiến tranh không chỉ tàn phá các giầu có vật chất, văn hóa và xã hội của họ, mà cũng – trong thời gian lâu dài – tàn phá sự toàn vẹn luân lý và tinh thần của họ nữa; xóa bỏ hay điề hành có thể chịu đựng nổi nợ nần quốc tế của các nước nghèo hơn; áp dụng các đường lối chính trị cộng tác, tôn trọng các giá trị của các dân tộc địa phương thay vì gập mình trước sự độc tài của vài ý thức hệ, và trong mọi trường hợp các đường lối chính trị ấy không được gây tổn thương cho quyền nền tảng và bất khả nhượng của các trẻ em sắp sinh vào cuộc sống.
Tôi xin phó thác các suy tư này cùng với các lời chúc mừng năm mới tốt đẹp cho năm mới cho lời bầu cử của Mẹ Maria Rất Thánh Mẹ mau mắn lo cho các nhu cầu của nhân loại, để Mẹ xin được từ Chúa Giêsu Con Mẹ, Hoàng Tử Hoà Bình, việc khấng nhận các lời khẩn nài của chúng ta và phước lành của sự dấn thân thường ngày của chúng ta cho một thế giới huynh đệ và liên đới hơn.
Từ Vaticăng mùng 8 tháng 12 năm 2015 Lễ trọng Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria. Mở Năm Thánh Ngoại Thường Lòng Thương Xót.
                                                                                                                                         Linh Tiến Khải

Năm “Đời sống Thánh hiến”: Độc thân của người tu sĩ Kitô giáo

19:52 |
…Độc thân là một lối sống đòi hỏi chắc chắn phải có một gắn bó rất mật thiết với Chúa, bằng cầu nguyện; nhưng cũng đòi hỏi sống các mối quan hệ trong cộng đoàn và nối kết với sứ vụ mà người môn đệ được mời gọi thi hành….
Những người đi tu sống độc thân: Tại sao và để làm gì?
Người tu sĩ ngày nay có hạnh phúc khi sống đời độc thân tận hiến không?
 
Thời xưa người ta ít biết hay chưa biết đến bậc sống độc thân xét như là một điều kiện sống thường xuyên mà một người nam hay một người nữ thề nguyện sống cả đời.
 
Độc thân của Chúa Giêsu
 
Nguồn gốc nhân loại của Chúa Giêsu là người mẹ trinh khiết: Đức Maria, mẹ Người, khi thụ thai không biết đến người nam nào (cf. Mt 1,18-25; Lc 1,26-38). Đức Giêsu sinh ra không bởi sự kết hợp của một người nam và một người nữ, nhưng bởi quyền năng Chúa Thánh Thần xuống trên người trinh nữ Maria (cf. Mt 1,18; Lc 1,35). Việc Đức Giêsu sinh hạ đã là một hiện thực cánh chung, Nước Thiên Chúa đã đột nhập vào trần thế của con người. Ngay lúc Đức Giêsu được thụ thai trong lòng mẹ, lịch sử đã biến đổi tận căn, được đổi mới hoàn toàn bởi biến cố cứu thế, biến cố sẽ đạt tới viên mãn khi Người phục sinh, là ấn dấu cuối cùng.
 
Về bản thân của Đức Giêsu, Người đã và vẫn là độc thân. Các sách phúc âm quả thật thường nói đến gia đình gốc của Người (cha, mẹ, anh em và chị em), mà không bao giờ nói gì về một người vợ hay người con nào của Người. Đức Giêsu chọn không có riêng một gia đình huyết nhục, Người giữ một khoảng cách thật xa với gia đình (cf. Mc 3,20-21), nhưng chọn một gia đình mới, không còn đặt trên nền tảng quan hệ huyết nhục, cũng không dựa trên những quan hệ nào khác, bao gồm những ai thực thi thánh ý Chúa (cf. Mc 3,31-35). Gia đình của Đức Giêsu chống lại Người vì động thái của Người được cho không chỉ là cá biệt nhưng là lập dị, điên rồ. Là một kẻ vô gia đình, vô gia cư, lang thang, mất trí.
 
Việc rao giảng, mà trọng tâm là loan báo Nước Thiên Chúa và người ta phải cấp bách sám hối, là hậu cảnh giúp ta dễ hiểu việc Người chọn đời sống độc thân. Nói tắt một lời, những gì Đức Giêsu rao giảng và sống có vẻ như không thể tái hiện được trong lối sống gia đình. Người tuyên bố, “trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng” (Mt 22,30). Lối sống đó của chính bản thân Người cũng được yêu cầu dành cho những ai đi theo bên Người thường xuyên: ai đi theo Người phải “từ bỏ mọi sự” (cf. Lc 18,28), nghĩa là từ bỏ vợ con vì Người và vì Tin Mừng (cf. Lc 18,29).
 
Gioan Tẩy Giả xem ra cũng ở độc thân để thi hành sứ vụ của ngài và sống trong hoang địa. Hơn nữa, các tác giả như Flavius Joseph, Philone thành Alexandria và Plinius Cả, làm chứng dù chứng từ của họ không đồng nhất, cũng cùng chung xác định nhiều người trong số các người phái Essenes và phái Therapeutes là các tu sĩ sống độc thân. Không những thế, cũng lưu ý rằng trong xã hội rabbi do thái, vốn rất tôn kính giới răn của Thiên Chúa truyền cho con người hãy sinh sôi nảy nở (cf. St 1,26; 9,1.7) và cho rằng không chấp nhận được kiểu sống độc thân, cũng vẫn cho thấy có những trường hợp ngoại lệ và phát triển những cách tư duy, và quan niệm về sự tiết dục và tình trạng sống tiết dục thường xuyên như có một giá trị đạo đức và tiên tri nào đó. Trong xã hội Do Thái giáo thời Đức Giêsu, chọn sống độc thân là điều hiếm có và ngược dòng, nhưng là một chọn lựa thực tế khả thi. Đối với Đức Giêsu chọn lựa này phù hợp với thế đứng tách riêng và ý thức tiên tri của Người, hiến dâng hoàn toàn cho Nước Trời, cho việc rao giảng sự cấp bách của thời cánh chung. Bởi thế, đời độc thân của Chúa Giêsu trước hết có tính tiên tri và cánh chung, nhưng cũng thuộc đức nghèo khó của Người.
 
Chúa Giêsu nói về sự độc thân
 
“Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,26).
 
“Thầy bảo thật anh em: chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Lc 18,29-30).
 
Cần giải thích sự “từ bỏ” hay “ghét” ở đây có nghĩa là “yêu ít hơn” so với yêu mến Chúa Giêsu, Nước Trời, Tin Mừng. Gia đình là một phúc lành, nhưng thực tại mới và cánh chung mà Chúa Giêsu mang đến đòi hỏi người môn đệ phải đặt mình phục vụ cho Nước Trời, theo Chúa Giêsu đến mức từ bỏ mọi sự. Gia đình là một phúc lành, những mối dây liên kết huyết tộc cần được kính trọng; công ăn việc làm là thánh thiện và cần phải chú tâm làm việc với tinh thần trách nhiệm; đất đai và nhà cửa là phúc lành của Chúa; nhưng bây giờ tất cả những thứ này không còn là tối thượng nữa, mọi sự đều phải được quy hướng về Chúa Giêsu, Nước Trời, Tin Mừng. Không gì có thể cản bước cũng như đặt điều kiện trước tiếng gọi của Chúa Giêsu. Cũng lưu ý có một sự liên hệ chặt chẽ giữa việc từ bỏ khả năng kết hôn và từ bỏ nhà cửa, đất đai, gia đình gốc, các mối quan hệ ruột thịt, công việc nghề nghiệp.
 
Chỗ khác, Chúa Giêsu nói: “Có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12).
 
Độc thân có thể liên hệ tới Nước Trời, có giá trị như một dấu chỉ, như một ám dụ về Nước Trời, được đảm nhận vì tình yêu Đức Kitô (cf. Mc 8,35; Mt 16,25; Lc 9,24) và Tin Mừng của Người (cf. Mc 10,29; Mt 4,23; 9,35; 24,14). Khi ấy độc thân trở nên là một thực tại tiên tri và cánh chung, chứ không có tính chức năng thực dụng; là một ơn ban cho một môn đệ được kêu gọi mở lòng ra đón nhận sự thật của riêng mình. Đó không là một nghĩa vụ, không là một biện pháp cũng không phải là mệnh lệnh dành riêng cho những “con người hoàn hảo”, nhưng là một đặc sủng cần được đón nhận đối với ai nhận ra mình được kêu gọi đi theo Chúa và mở lòng đón lấy.
 
Độc thân là một lối sống đòi hỏi chắc chắn phải có một gắn bó rất mật thiết với Chúa, bằng cầu nguyện; nhưng cũng đòi hỏi sống các mối quan hệ trong cộng đoàn và nối kết với sứ vụ mà người môn đệ được mời gọi thi hành. Kết hợp mầu nhiệm với Chúa, liên đới hiệp thông với anh em, và cùng thi hành sứ vụ đến với mọi người.
 
Độc thân là một hồng ân nên phải cảm tạ Chúa
 
Để sống đời độc thân thật tốt, điều đầu tiên là nhận biết và mỗi ngày một ý thức sâu sắc hơn rằng đây là một ơn ban, một đặc sủng được Chúa ban cho ai có thể đón nhận nó. Đây là một khả năng sống không phải được ban cho hết mọi người mà chỉ cho một số người nào đó thôi. Đời độc thân tận hiến phải được sống trong tự do và vì tình yêu. Bởi thế hết sức cần có một sự phân định ơn gọi trước cuộc hành trình sống ơn gọi. Chỉ khi ta ý thức rằng mình đã nhận được ơn huệ thì ta mới có thể tìm ngược lên đến ý định của Đấng ban ơn, đọc ra được tiếng gọi, và từ đó mà cảm thấy nảy sinh trách nhiệm vì được Thiên Chúa chọn gọi để thực thi một sứ vụ.
 
Đúng là người ta không tự mình chọn đời độc thân tận hiến, đúng hơn người ta đón nhận nó như một yếu tố chỉ có được ý nghĩa và giá trị trong khi đi theo Chúa. Người ta chọn đời sống độc thân tận hiến vì người ta bị hấp dẫn bởi Chúa Kitô và Nước của Người đến độ muốn tập trung toàn bộ cuộc sống của mình vào Chúa Giêsu, muốn sống như Người đã sống, một cuộc sống hoàn toàn gắn bó với Người, trong khi mong đợi Người lại đến trong vinh quang. Họ có thể sống độc thân như thế bằng cách tập chú lòng khao khát, mong đợi, niềm hi vọng, lòng mến vào con người Đức Giêsu Kitô. Đúng hơn, ta phải nói rằng chọn lựa độc thân là kết quả của những điều đó. Như thế, chọn lựa đó không được thúc đẩy bởi một ước muốn thanh khiết theo nghi thức hay ước muốn được còn trinh nguyên thể lý, như thể các quan hệ tình dục đều nghịch cùng đời sống thiêng liêng, như thể khoái lạc là điều cấm kị, và ngược lại là cần phải khinh miệt xác thịt, thân xác hay thế gian.
 
Cần phải xác nhận rằng độc thân khiết tịnh không phải là một tình trạng tĩnh mà ta tồn tại trong đó nhưng là một sự đang thành hình trong thời gian. Điều đó có nghĩa là sự tập trung lòng khao khát Chúa của một anh em, chị em tuổi đôi mươi khởi đầu đời tu chẳng hạn, có thể rất nồng nàn và cũng rất lí tưởng, rất chân thực nhưng cũng thường không đủ sức đương đầu với thực tế vốn rất gian nan của hành trình đó. Thế nên, một khi đã chọn sống độc thân vì yêu mến Chúa và ước muốn đi theo Người trọn vẹn, những người độc thân tận hiến cần phải đổi mới và ước muốn lặp lại hằng ngày chọn lựa của mình, trong từng giai đoạn mới của cuộc sống khi mà cách thức yêu mến thay đổi, khi những khao khát tình cảm bền vững áp đảo, khi nỗi cô đơn chất nặng thêm cuộc sống của ta.
Quả thật, dù trong trường hợp nào, nếu độc thân tận hiến được hiểu như là một ân ban và là sự đáp lại tình yêu Chúa, thì đó sẽ là lý do để tri ân Chúa. Bằng không, đời độc thân sẽ chỉ như là một lề luật áp đặt phải tuân giữ, sống thiếu lòng cảm mến tri ân, rốt cuộc chỉ còn là một gánh nặng không chịu nổi.
Nguồn: WHĐ

Ơn gọi

19:02 |
Nói đến ơn gọi, ai trong chúng ta cũng nghĩ đến những người được kêu gọi để trở thành linh mục, giám mục hay những người nam nữ tu sĩ trong những bộ áo dòng thánh thiện. Quả thực ơn gọi là tiếng gọi của Thiên Chúa, là ơn của Thiên Chúa gọi một ai đó nhưng không chỉ là trở thành một người trong đời sống tu trì, nhưng hơn thế là để trao cho họ một sứ mạng, một ơn gọi cho một sứ vụ từ Trời.

Thánh giá và đời tu

09:08 |
Hiến tế Thập Giá là ngôn ngữ diễn tả tình yêu sống động và tuyệt đối của Chúa Giêsu đối với Thiên Chúa và nhân loại. Hy tế này mang hai chiều kích liên kết chặt chẽ với nhau: chiều kích thứ nhất liên quan đến mối tương giao với Thiên Chúa: đó là sự tuân phục, sự gắn bó toàn thân với Thánh Ý Thiên Chúa; chiều kích thứ hai liên quan đến loài người; đó là sự trao ban toàn thân, biểu lộ tình liên đới huynh đệ.
Hy tế của Đức Kitô đã bắt đầu với việc Nhập Thể (Dt 10, 5-7). Người bước vào trần gian để thi hành ý muốn của Chúa Cha. Hy tế ấy trải dài suốt cuộc đời Người tại thế và được biểu lộ cách hoàn hảo qua cái chết trên Thập Giá. “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nộ lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người là còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8)
1. Bước theo Chúa là chấp nhận theo con đường khổ giá
Khi chọn chủ đề Thánh giá và đời tu, tôi không cố ý nói chuyên đề về những đau khổ trong đời sống tu trì, nhưng cố ý nói tới điều cơ bản hơn là tương quan giữa mầu nhiệm Thập giá Chúa Kitô và đời sống thánh hiến. “Vì hội còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá.” (1 Cr 2,2)
Theo Tông Huấn Đời sống thánh hiến, mọi ơn gọi đời sống thánh hiến đều bắt nguồn từ Thập Giá Chúa Kitô (số 23). Chiêm ngắm Chúa Kitô chịu đóng đinh là nguồn linh hứng cho mọi ơn gọi. Hồng ân Thánh Thần của Thập Giá là nguồn gốc mọi hồng ân, đặc biệt là hồng ân đời sống thánh hiến.
Nói đến Thập Giá của Chúa là nói đến chính Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nói đến cuộc Khổ Nạn của Chúa mà mỗi người kitô-hữu đều thông phần khi chịu phép rửa.“Tôi sống, những không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2,20)
Người kitô-hữu là con người của thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Con đường của người Kitô hữu, của Hội Thánh chúng ta không là một giấc mơ vềĐấng Mesia trần thế. Vị Thiên Chúa đầy nhân tính, Chúa Giêsu của các sách Tin Mừng loại trừ hình ảnh Đấng Messia theo mơ ước quyền năng của con người. Thập giá đảo lộn các ước mơ của con người, những ước mơ bắt đầu bằng tội của Eva.
Theo nhà thần học Karl Rahner, muốn biết Thiên Chúa là ai, phải quỳ dưới chân thập giá và cùng lúc hướng về cánh cửa mà Phục Sinh mở ra. Tìm Thiên Chúa nơi nào khác là tư duy theo kiểu loài người, chứ không theo đường lối của Thiên Chúa .
Những người sống đời thánh hiến là thế hệ những người đi tìm Thiên Chúa. Thập Giá Chúa Kitô đối với họ hết sức quan trọng, vì họ chỉ có thể tìm thấy Thiên Chúa nơi mà Người tự mạc khải. Theo cái nhìn của thánh Mác-cô huyền nhiệm về Đấng Cứu Thế chỉ được bộc lộ rõ rệt khi Người bị chết treo trên thập giá với lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng: “Quả thực người này là Con Thien Chúa” (Mc 15,39). Con đường dẫn đến cảm nghiệm tâm linh không thể tách rời khỏi thập giá. Theo con đường thập giá có nghĩa là từ bỏ bản thân (Mc 8,35), sống liên đới với tha nhân: Bán tài sản để phân phát cho người nghèo (Mc 10,21), phục vụ (Mc 10,45).
2. Cơn cám dỗ thoát khỏi thập giá:
Đây là cơn cám dỗ thường xuyên đối với chúng ta hôm nay, là tìm kiếm một Đức Giêsu không thập giá, là muốn một thứ “Kitô Giáo” dễ dãi và hợp thời hơn, là khát khao một thứ “Tin Mừng” không nhuốm nước mắt.
Cũng giống như Phêrô, ta muốn kéo Chúa Giêsu ra ngoài và can ngăn về chuyện Ngài muốn tuyên bố quá rõ ràng về thập giá. Nhưng rồi cần phải nhận rằng, tin mừng của Chúa Giêsu là một thứ tin mừng khổ luỵ, nghĩa là không phải chỉ có rao giảng mà chủ yếu là thực thi, làm chứng (tử đạo trong cuộc sống hằng ngày), nghĩa là chết đi cho bản thân mình để Chân Lý và Tình Yêu được tỏ hiện. Nếu không như thế, thì tin mừng trở nên mơ hồ, thập giá trở thành món đồ trang sức, và đạo lý cứu độ biến thành mớ lý thuyết để che chắn và làm bình phong cho một số hạng người nào đó được yên thân an vị.
Nếu ta cố tìm một Đức Giêsu không thập giá, ta sẽ gặp thập giá mà không có Đức Giêsu. Sự khôn ngoan và sức mạnh của thập giá chỉ được hiểu khi người ta đảm nhận và trực tiếp kinh nghiệm nó một cách sâu xa, để từ đó không còn nhìn thập giá như một chướng ngại, nhưng là một cơ hội và cách thế thể hiện chính mình một cách cao độ nhất trong Đức Kitô, tạo nên sự say mê và niềm thâm tín như thánh Phaolô:
– “Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1Cr 2,2).
– “Tôi mang trong thân mình tôi cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, ngõ hầu sự sống của Chúa Giêsu cũng được tỏ hiện nơi thân xác chết dở của tôi” (2Cr 4,10).
– “Tôi thông phần vào sự thống khổ của Chúa Giêsu, để được đồng hình đồng dạng với sự chết của Ngài, để làm sao đạt tới ơn Phục Sinh từ cõi chết” (Pl 3,10-11).
Quả thật, chúng ta có một khoa học tuyệt vời hơn mọi thứ khoa học, đó là khoa học thánh giá. Thánh giá là tiêu chuẩn để chọn lựa và quyết định trong mọi trường hợp, chính trong tâm thái này mà tâm hồn ta vẫn luôn được bình an và thanh thoát cả trong những nỗi ngặt nghèo. Nhưng rồi trong thực tế, cuộc sống nhiều khi cũng làm ta giằng co và nhức nhối khôn nguôi do những nỗi trăn trở tuỳ chính tâm hồn mình, giữa cái muốn mà không muốn, giữa cái làm mà không làm, giữa cái cho đi và khước từ, giữa cái dấn thân và đòi hỏi, giữa cái sống và cái chết… Bởi vậy, Thomas Kempis trong sách “Gương Chúa Giêsu” có viết như sau:
– Có rất nhiều kẻ muốn lên thiên đàng với Chúa Giêsu, nhưng rất ít kẻ muốn vác thánh giá với Người.
– Nhiều kẻ ước ao được ơn an ủi của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thử thách với Người.
– Nhiều kẻ muốn dự tiệc với Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thiếu thốn với Người.
– Nhiều kẻ muốn vui hưởng với Người, nhưng ít kẻ sẵn sàng chịu sự gì khó với Người.
– Nhiều kẻ muốn theo Chúa Giêsu đến bàn tiệc bẻ bánh, nhưng ít kẻ muốn uống chén đắng với Người.
– Nhiều kẻ tôn sùng các phép lạ của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu sỉ nhục với Người.
3. Sống đời hy tế
Theo định nghĩa của Tông Huấn Đời sống thánh hiến, người tu sĩ sống đời thánh hiến là người nghe tiếng gọi của Chúa Cha và được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, đã chọn con đường đặc biệt bước theo Đức Kitô (sequela Christi), để tự hiến cho Đức Chúa với một con tim không chia sẻ (số 1).
Bước theo Đức Kitô là anh chị em định hướng đi cho đời mình một cách dứt khoát và quyết liệt, chứng tỏ mình đang thực hiện một cuộc trở về liên tục, vì khi khám phá ra những điều kiện, những yêu sách và những đòi hỏi khác nhau của việc theo Đức Kitô, anh chị em có cơ hội xác định lại mối tương giao giữa mình với Đấng mà mình đang bước theo, hầu kiện toàn tương quan ấy một cách bền vững hơn.
Bước theo Chúa là đi theo con đường khổ nạn của Thầy. Yêu mến Đức Giêsu và bước theo Ngài là góp phần làm dịu các nỗi khổ đau của loài người, là đấu tranh bằng lời nói và cuộc sống chống mọi nguồn gốc của sự dữ, của khổ đau. Thánh Giá Cứu Độ của Chúa Giê su đòi hỏi giải phóng khỏi mọi thứ thập ác của tội lỗi và sự chết. Bước theo Chúa Giêsu là biến các thập giá hằng ngày thành môi trường và cơ hội cho sự phục sinh, cho tình yêu và công lý.
Khi chọn đời sống dâng hiến la anh chị em tự nguyện “cởi bỏ con người cũ”  một cách chính chắn và ý thức hơn, từ bỏ quyền sở hữu để sống thanh bần trong tinh thần và trong thực tế; quyết sống khiết tịnh vì nước trời để trung kiên với Thiên Chúa bằng một tình yêu không san sẻ; sẵn sàng từ bỏ ý riêng để hoàn toàn tuân phục với lòng yêu mến Thiên Chúa.
Vì thế, anh chị em hãy loại trừ khỏi lòng mình những khát vọng tư lợi, vị kỷ, hãy quên đi “cái tôi” và cả nếp sống dễ dãi, buông thả của con người tự nhiên nơi chính mình nữa. Chính nhờ sự từ bỏ này mà chị em được trở nên trống rỗng trước Thiên Chúa, hầu xứng đáng đón nhận cuộc sống mới nơi Đức Kitô phục sinh, để chỉ chuyên tâm phụng sự Thiên Chúa và làm cho mọi người nên giàu có trong ân sủng của chính Người.
Từ bỏ mình cách tuyệt đối làm cho anh chị em khám phá ra rằng những của cải, khả năng tiện nghi mà mình chiếm hữu được không phải là kho tàng để cho mình dừng lại ở đó. Nhưng xác tín rằng kho tàng mà chị em tìm kiếm chính là “Nước Trời”, là “viên ngọc quý” mà người thương gia trong Tin Mừng tìm được, và ông đã bán tất cả những gì mình có mà mua cho được “viên ngọc quý” ấy (x. Mt 13,45-46)
Sống đời dâng hiến đòi phải từ bỏ và thông phần mầu nhiệm thập giá Chúa Kitô, trước hết hãy để cho Chúa Thánh Thần, Đấng mình lãnh nhận trong Phép Rửa, tháp nhập chính mình vào cuộc khổ nạn của Chúa. Sống đời thánh hiến là sống ơn gọi Phép Rửa cách triệt để. Ơn gọi đời sống thánh hiến là đỉnh cao của ơn gọi Phép Rửa. Trong Phép rửa, mỗi người chúng ta cùng chết với chúa Kitô để cùng sống lại với Người, chúng ta được thông phần mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa, tức là thông phần vào cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, trót cuộc đời của người dâng hiến là chết đi và sống lại với Người.
3. Một chút tâm tình của bản thân với tình yêu thập giá
Chúa cũng mời gọi tôi hãy say mê và chiêm ngắm thập giá Chúa Ktiô để góp phần tôn vinh tình thương của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh, “Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Với tất cả tâm tình yêu mến với Đấng chịu đóng đinh, tôi xin chia sẻ một chút cảm nghiệm của mình trong cuộc sống mà mỗi ngày tôi đang cố vươn lên để ơn gọi của tôi ngày càng chín mùi và thơm hương tình yêu thập giá Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh.
Bằng cuộc sống mỗi ngày, tôi liên kết mọi vui buồn sướng khổ, mọi biến cổ nhỏ to trong tâm tình phó thác tuyệt đối vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Nguyện xin Chúa thương xót tôi và thương xót toàn thế giới. Tôi cầu xin cho từng người, từng việc, trong từng thời điểm, theo ý nguyện sứ mạng ơn gọi của tôi là làm cho nhiều người, nhiều nơi nhận biết Thiên Chúa và tin nhận Chúa Giêsu Kitô vừa là người thật vừa là Thiên Chúa thật.
Điều tôi tâm niệm lúc này là tôi không còn khả năng tham gia mục vụ nơi các môi trường tông đồ. Tôi không thể truyền đạt, không thể thuyết phục người khác qua những khái niệm, những hiểu biết về Thiên Chúa. Hơn nữa, cuộc sống của tôi đầy dẫy những bất toàn và yếu đuối. Ý thức những giới hạn của mình, tôi cố gắng sửa mình nhưng tôi không buồn, không trách Chúa vì sao để tôi xấu như thế, chắc chắn Thiên Chúa có sẵn một kế hoạch tuyệt vời cho tôi. Và tôi dâng lên Thiên Chúa những bất toàn này để tôn vinh thập giá của Chúa Giêsu Kitô, để cầu xin cho mọi người nhận biết và yêu mến Thiên Chúa.
– Tôi sợ hãi những gì là đau khổ nơi tâm hồn cũng như thể xác. Tôi e ngại trước những hi sinh lâu dài, nhưng tôi tin Thiên Chúa yêu thương tôi và Ngài luôn chọn cho tôi điều tốt nhất. Kinh nghiệm cho tôi biết rằng: không bao giờ Thiên Chúa gửi cho tôi thánh giá quá sức của tôi và một kinh nghiệm khá ngọt ngào đối với tôi là: Thiên Chúa luôn luôn đồng hành với tôi ngay cả khi tôi không cảm nhận được Ngài.
Ngày nay, tinh thần đó vẫn ấp ủ trong lòng tôi qua việc bỏ mình tập luyện nhân đức, loại bỏ các nết xấu, thắng dẹp những thói quen ươn ái, dẫn đến việc dễ dàng chấp nhận một cuộc sống tầm thường và cuối cùng sẽ cản trở tôi không đạt tới đích ơn gọi đời tu là hiến thân phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.
Sống yêu thương và tha thứ đó là tất cả những gì tôi đang thực hiện theo tinh thần phúc âm (Ga 15,12); (Lc 17,3-4). Bước đầu tiên tôi thực hiện đó là cầu nguyện, từ đó tôi thấy ơn Chúa giúp tôi có thể sống yêu thương và tha thứ theo lời Chúa Giêsu đã dạy qua Kinh Lạy Cha (Mt 6,15).
THAY LỞI KẾT: Ngài có đó
Sống đời Kitô hữu là bước theo thập giá Chúa Kitô, chấp nhận đau khổ vì Chúa Kitô và với Chúa Kitô. Đối với người Do Thái thập giá là sự chúc dữ, đối với dân ngoại là hình khổ ghê tởm, còn với thánh Phao-lô là niềm hãnh diện. Người vui sướng được khổ vì Chúa Kitô.
Chúng ta sống đời thánh hiến, chúng ta còn cảm nghiệm rằng: Ngài vẫn hiện diện với chúng ta trong mọi tình huống của cuộc đời.
Ngài có đó, giữa những ký ức ngọt ngào thân thương nơi phòng tiệc.
Ngài có đó, bao dung, tha thứ và rất dịu hiền.
Ngài có đó, chẳng có vẻ gì chì chiết hay khiển trách.
Ngài có đó, chữa vết thương lòng, ban thêm sức mạnh.
Ngài có đó, biến tuyệt vọng thành hân hoan.
Ngài có đó, củng cố niềm tin, ban sức sống.
Ngài có đó, hồi sinh và ban sinh lực.
Ngài có đó, khi ta tưởng mình đang cô đơn.
Ngài nghe ta khi chẳng ai đáp lời.
Ngài yêu ta khi mọi người bỏ xa ta.
Khi tình đời là mối dây oan, ân tình Ngài hằng luôn luôn chan chứa.
Lm. Đa Minh Đinh Viết Tiên