TỬ ĐẠO TRONG THẾ KỶ 21

18:27 |
(LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM- 2014)
Hôm nay, chúng ta hân hoan mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là cha ông, tổ tiên của chúng ta.
Khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta được mời gọi noi gương các ngài để can đảm sống chứng nhân đức tin giữa lòng đời trong bối cảnh hôm nay.
Như vậy, cùng một lời mời gọi nên thánh, chung một lý tưởng hoàn thiện, nhưng mỗi thời đại, chúng ta được thúc đẩy thể hiện niềm tin của mình bằng một cung cách khác.
Nhưng trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu các thánh tử đạo Việt Nam đã sống đời chứng nhân như thế nào?
  1. Đời sống chứng nhân nơi các thánh tử đạo Việt Nam
Mỗi lần nhắc đến các thánh tử đạo Việt Nam, ấy là mỗi lần chúng ta nhắc đến tấm gương anh dũng, can đảm, kiên trì, trung thành vì đức tin; tính trung thực, lòng yêu mến quê hương, tính liên đới, tấm lòng bác ái, vị tha nơi các ngài. Nhất là tấm gương anh dũng hy sinh chấp nhận cả cái chết để bảo vệ niềm tin vào Đức Kitô.
Điểm nổi bật nơi các thánh tử đạo là: các ngài không chấp nhận bất cứ hình thức nào theo kiểu: thuốc đắng bọc đường để bỏ Chúa. Khi dụ dỗ không được, vua quan thường hay tức giận và vu khống đủ điều xấu xa cho các ngài.
Một trong những tội mà các vua quan thời bấy giờ thường hay gán cho các ngài cũng rất giống tội danh mà các nhà lãnh đạo Dothái đã kết án Đức Giêsu, đó là tội chống chính quyền, sách động dân chúng, phản lại dân tộc. Khi bị ghép cho tội tầy trời như thế, thì chỉ còn nước chết và chết mà thôi!!!
Tuy nhiên, đây là một sự hồ đồ, ngộ nhận nơi vua quan, vì thế các ngài đã không chấp nhận và lại là dịp để chứng tỏ lòng yêu nước cũng như trách nhiệm xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn. Điều này đã được thánh linh mục Khuông từng tuyên bố : “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng”. Tuy nhiên, các ngài đã phân biệt được đâu là ranh giới của lãnh vực này. Thánh binh sĩ Trần Văn Trung đã chấp nhận cái chết để nói cho vua quan biết lập trường của người Công Giáo: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”. Thua keo này họ bày keo khác, sự gán ghép với ý đồ thâm độc cho rằng tổ tiên chúng ta là những người theo đạo Tây, nên đây là tà đạo! Thánh linh mục niên trưởng Vũ Bá Loan đã khẳng khái tuyên bố: “Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi”.
Khi nói về mẫu gương nổi bật nơi các ngài, chúng ta không thể quên được lòng trung thực được thể hiện qua cung cách lựa chọn của các thánh.
Các ngài đã noi gương Đức Giêsu, Thầy Chí Thánh của mình, yêu thương thật lòng không giả dối, ngụy biện… Chính thánh quan Hồ Đình Hy đã nói: “Đừng làm việc thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý”. Khi nói về tình yêu thương, sự bao dung, tha thứ, thánh Cai Tả nói: “Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình”.
Khi được các quan tinh vi gợi ý giả vờ bước qua Thánh Giá để có cớ mà tha cho tội chết. Đây là một cám dỗ khá xảo quyệt và hấp dẫn, có vẻ được lợi cả hai, đời này và đời sau. Nhưng cha ông chúng ta đã không bị vướng vào cạm bẫy này, nên khi bị dụ dỗ và khuyên dụ nhắm mắt bước qua Thánh Giá, thày giảng Nguyễn Cần nói: “Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí khôn không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm”.
Nói chung, gương mẫu của các thánh tử đạo Việt Nam là rất nhiều, tuy nhiên, hôm nay, chúng ta chỉ đưa ra hai đặc tính nơi các ngài là:
  • Không chấp nhận sự vu khống cho rằng người Công Giáo là người phản quốc, chống lại dân tộc. Cần phân biệt được đâu là người yêu nước thực sự, đâu là kẻ giả hình…
  • Không chấp nhận sống hai mặt, hai lòng, giả dối để được lợi cho phần xác mà mất linh hồn.
Thiết nghĩ, hai đặc tính trên chính là sức hút và khơi nguồn cảm hứng cho mỗi chúng ta nên thánh trong thời đại hôm nay.
  1. Tử đạo trong thế kỷ 21
Ngày nay, cảnh tượng kinh hoàng như thời các thánh tử đạo của chúng ta phải chịu như máu đổ, đầu rơi; đòn roi tra tấn; hay nhục hình ghê rợn…, không còn diễn ra trên diện rộng nữa, có chăng chỉ là những nơi xa xôi hẻo lánh, hay những người nắm chính quyền thiếu hiểu biết, ấu trĩ, bảo thủ hoặc ngu dốt, nên mới gây ra những hậu quả đáng tiếc, tạo nên sự mâu thuẫn giữa luật và người thi hành luật! Hay khi thi hành đã hành pháp sai mục đích chủ trương chính sách của dân tộc, hoặc đôi khi biết sai nhưng vẫn cứ nhắm mắt thi hành chỉ vì muốn trục lợi cá nhân… dung dưỡng cái bụng của mình mà làm cho cái đầu bị ngắn trí và trái tim bị teo lại nên không còn biết đúng – sai. Những người như vậy, họ thuộc hạng người bị mù lương tâm!
Còn trên bình diện thế giới, hình khổ theo kiểu cổ điển mà các chính quyền đưa ra để đàn áp những người Công Giáo cũng không thể diễn ra, bởi vì: hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Có chăng, chỉ có phiến quân nhà nước Hồi Giáo (IS) cực đoan mà thôi!
Vì thế, khi nói đến tử đạo ngày nay, vẫn khái niệm duy nhất là chết vì bảo vệ đức tin. Tuy nhiên, cần mở rộng lối suy nghĩ để hiểu khái niệm này cách rộng rãi hơn, phù hợp với môi trường cũng như thách đố của chúng ta hiện nay.
Người chứng nhân của thời đại hôm nay chính là dám chấp nhận ngược dòng để sống căn tính, cốt lõi của Tin Mừng, đó là: chấp nhận đứng về phía người thấp cổ bé họng, những người không có tiếng nói, những người cô thế, cô thân, bị loại ra bên lề nhằm bênh vực và lên tiếng thay cho họ khi quyền chính đáng của họ bị cướp đoạt. Khi đứng về phía họ như vậy, chúng ta sẵn sàng bảo vệ công lý, chống lại bất công.
Tử đạo ngày nay còn là lựa chọn và khước từ trước những cám dỗ, lôi cuốn, hấp dẫn để trục lợi cá nhân, an thân, ăn trên ngồi trước, ham quyền cố vị…, hay chạy đua những dục vọng, dâm ô, khát vọng bất chính, sống trác táng, phóng đãng… Khi khước từ những thứ đó, chúng ta được mời gọi để sống một cuộc sống công minh chính đại, sống tinh thần phục vụ vô vị lợi theo lời mời gọi của Chúa và Tin Mừng của Ngài.
Trong thời đại này, một hiện tượng cũng khá phổ biến đang lưu hành trong xã hội và nó chi phối sự lựa chọn của rất nhiều người, làm cho chúng ta đáng quan ngại, đó là: sự dửng dưng, vô cảm trước nỗi đói khổ, hoạn nạn của anh chị em. Bên cạnh đó, lập trường sống theo kiểu hạt nhân, đèn ai nấy rạng, nên không cần quan tâm đến nhau cũng là điều đáng để chúng ta suy nghĩ!
Giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu được mời gọi sống tinh thần nghèo khó, liên đới, trách nhiệm, loại bỏ những thứ như: hưởng thụ, khoái lạc, quyền lực, vụ lợi hay những thái độ dửng dưng, vô cảm… để chấp nhận nghịch lý của Tin Mừng khi lội ngược dòng với những hấp dẫn bất chính của con người và xã hội thời nay nhằm truyền tải cho xã hội và con người hôm nay một thông điệp rằng:
Đạo Công Giáo là Đạo Yêu Thương. Yêu con người và yêu dân tộc. Sẵn sàng đóng góp và xây dựng tổ quốc này ngày càng tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, yêu thương, liên đới, cảm thông với nhau hơn. Tuy nhiên, khi thấy cảnh trái luân thường đạo lý, người nghèo bị áp bức, bóc lột… sự thật bị bóp méo… thì chúng ta không thể an thân, bình chân như vại. Ngược lại, bằng khả năng, cách thế của mình, chúng ta phải lên tiếng trong sự ôn hòa, yêu thương và trách nhiệm, để làm cho cuộc sống này tràn đầy tình thương và nhân ái hơn.
Khi sống chứng nhân như thế, hẳn chúng ta đã làm cho khái niệm tử đạo ngày nay được phong phú hơn, rộng rãi hơn và thiết thực hơn. Tuy nhiên, đây cũng là một thách đố mang tính trường kỳ nói lên tính tử đạo liên lỷ ngang qua những lựa chọn mà chúng ta phải đối diện hằng ngày.
Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội Việt Nam các thánh Tử đạo là mẫu gương cho chúng con noi theo. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu mà ban cho chúng con ơn trung thành, can đảm để sống chứng nhân cho Chúa trong thời đại hôm nay. Amen.
Jos. Vinc. Ngọc Biển

Công bố chương trình viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Sri Lanka và Philippines

21:58 |
VATICAN. ĐTC sẽ viếng thăm Sri Lanka và Philippines từ ngày 12 đến 19-1 năm tới, 2015.

Theo chương trình do Phòng báo chí Tòa Thánh công bố hôm 14-11 vừa qua, ĐTC sẽ rời Roma lúc 7 giờ tối thứ hai, 12-1 và tới phi trường thủ đô Colombo của Sri Lanka lúc 9 giờ sáng hôm sau, 13-1.

Sau nghi thức tiếp đón tại Phi trường, ĐTC sẽ gặp gỡ các GM Sri Lanka lúc 1 giờ 15 phút trưa tại tòa TGM Colombo.

Ban chiều cùng ngày, lúc 5 giờ, ngài sẽ viếng thăm Tổng thống tại Phủ Tổng thống, trước khi tham dự cuộc gặp gỡ liên tôn lúc 6 giờ 15 tại Trung tâm hội nghị quốc tế Bandaramaike Memorial.

- Sáng thứ tư, 14-1, lúc 8 giờ rưỡi, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ phong Hiển Thánh cho chân phước Joseph Vaz, vị tông đồ của Sri Lanka, tại Công viên Galle Face Green cạnh bờ biển.

Ban chiều lúc 2 giờ, ĐTC sẽ đáp trực thăng đến Đền thánh Đức Mẹ Madhu để kính viếng và gặp gỡ các tín hữu vào lúc 3 giờ rưỡi, rồi trở về thủ đô. - Sáng thứ năm 15-1, lúc 8 giờ 15, ngài sẽ kính viếng Nhà Nguyện Đức Mẹ Lanka ở Bolawalana, mạn bắc Colombo, trước khi ra phi trường lúc 9 giờ để đáp máy bay đi Manila, Philippines.

ĐTC sẽ đến sân bay quân sự Villamor ở Manila lúc gần 6 giờ chiều cùng ngày 15-1.

Lễ nghi đón tiếp chính thức sẽ diễn ra tại Phủ Tổng Thống lúc 9 giờ 15 sáng hôm sau, thứ sáu 16-1. Ngài gặp gỡ Tổng thống và các quan chức chính quyền cùng với đoàn ngoại giao.

Ban trưa, lúc 11 giờ 15, ĐTC sẽ cử hành thánh lễ với các GM, LM, trước sự tham dự của các tu sĩ nam nữ tại Nhà Thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Manila.

Lúc 5 giờ rưỡi chiều cùng ngày ngài sẽ gặp gỡ các gia đình tại Hội trường Mall of Asia Arena.

- Thứ bảy 17-1, ĐTC sẽ rời Manila bay tới thành phố Tacloban và dâng thánh lễ tại Phi trường quốc tế ở địa phương lúc 10 giờ. Sau đó ngài sẽ dùng bữa trưa với một số những người sống sót trong trận cuồng phong Hayan hồi tháng 11 năm 2013.

Ban chiều cùng ngày, lúc 3 giờ, ĐTC sẽ làm phép trung tâm cho người nghèo rồi gặp gỡ các LM, tu sĩ nam nữ và những người sống sót tại Nhà thờ chính tòa Palo, rồi trở về Manila.

- Sáng Chúa nhật 18-1, ĐTC sẽ gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo ở Đại Học Santo Tomas ở Manila rồi gặp gỡ các bạn trẻ tại Sân thể thao của đại học vào lúc 10 giờ rưỡi.

Ban chiều ĐTC sẽ cử hành thánh lễ lúc 3 giờ rưỡi tại Công viên Rizal Park cũng ở Manila.

- Sáng thứ hai, 19-1, sau nghi thức tiễn biệt tại Sân bay quân sự Villamor, Manila, ngài sẽ đáp máy bay lúc 10 giờ sáng để trở về Roma, dự kiến sẽ tới phi trường Ciampino Roma vào lúc 5 giờ 40 phút chiều cùng ngày 19-1. (SD 14-1-2014)

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: VietVatican

Chủ chăn không được độc đoán nhưng phải khiêm tốn và biết lắng nghe

06:18 |
Ý thức chức thừa tác là một ơn Chúa ban chứ không phải vì mình thông minh, tài giỏi, tốt lành hơn người khác, giúp các Giám Mục, Linh Mục và Phó Tế biết sống khiêm tốn, cảm thông, thương xót, biết lắng nghe và học hỏi từ người khác, chứ không độc đoán, làm như thể cộng đoàn là của riêng mình và mọi người phải quỳ phục dưới chân mình.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với háng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi găp gỡ chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 12-11-2014.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý các đức tính mà các vị thừa tác của Giáo Hội phải có để sống việc phục Giáo Hội một cách đích thực và phong phú.

Mở đầu bài huấn Đức Thánh Cha nói: Trong bài giáo lý trước chúng ta đã minh nhiên sự kiện Chúa tiếp tục chăn dắt đoàn chiên Ngài qua chức thừa tác của các giám mục, linh mục và phó tế. Chính nơi các vị Chúa Giêsu hiện diện, trong quyền lực của Thần Khí Ngài, và tiếp tục phục vụ Giáo Hội bằng cách dưỡng nuôi đức tin, đức cậy, đức mến trong Giáo Hội. Như thế, các chức thừa tàc này là một ơn lớn lao Chúa ban cho mỗi cộng đoàn kitô và cho toàn thể Giáo Hội, trong nghĩa nó là một dấu chỉ sống động sự hiện diện và tình yêu của Ngài. Vậy chúng ta có thể tự hỏi đâu là điều được đỏi hỏi nơi các vị thừa tác này của Giáo Hội, để họ có thể sống việc phục vụ của mình một cách đích thật và phong phú?

Trong các ”Thư mục vụ” gửi các môn đệ của mình là Timoteo và Tito, tông đồ Phaolô cẩn thận đừng lại trên gương mặt của các giám mục, linh mục và phó tế, bằng cách phác họa ra ơn gọi của các vị và các đức tính cần được nhận ra nơi những người được chọn và trao phó cho các chức thừa tác này.

Thật là biểu hiệu, cùng với các ơn gắn liền với đức tin và cuộc sống tinh thần, có vài đức tính rất nhân bản được liệt kê ra: sự tiếp đón, thanh đạm, kiên nhẫn, hiền dịu, có thể tin cậy, có con tim tốt. Đó là mẫu tự, đó là văn phạm nền tảng của mỗi chức thừa tác. Nó phải là văn phạm nền tảng của mỗi giám mục, mỗi linh mục, mỗi phó tế. Phải, vì nếu không có bẩm chất xinh đẹp và thật sự này để gặp gỡ, hiểu biết, đối thoại, trân qúy và liên lạc với các anh em khác một cách tôn trọng và chân thành, thì không thể cống hiến một phục vụ và một chứng tá thực sự tươi vui và đáng tin cậy.

Thế rồi còn có một cung cách nền tảng mà thánh Phaolô khuyên nhủ các môn đệ của người và tất cả những ai được thụ phong chức thừa tác mục tử. Thánh tông đồ khích lệ họ liên tục làm sống lại ơn đã nhận lãnh (X. 1 Tm 4,14; 2 Tm 1,6). Điều này có nghĩa là họ phải luôn luôn sống trong ý thức rằng mình không phải giám mục, linh muc hay phó tế bởi vì mình thông minh hơn, tài giỏi hay tốt hơn các người khác, nhưng chỉ vì đó là một ơn, một ơn của tình yêu Thiên Chúa đã rộng ban, trong quyền năng Thần Khí của Người, cho thiện ích của dân Người. Ý thức này thật là quan trọng, và nó là một ơn cần phải xin mỗi ngày.

Thật thế, một Mục tử ý thức được rằng chức thừa tác của mình chỉ nảy sinh duy nhất từ lòng thương xót và từ con tim của Thiên Chúa sẽ không bao giờ có thái độ quyền uy, làm như thể là tất cả mọi người phải qùy dười chân mình và cộng đoàn là của riêng mình, là vương quốc của mình.

Ý thức rằng tất cả là quà tặng, tất cả là ơn thánh, cũng giúp một Mục tử không rơi vào chước cám dỗ đặt mình làm trung tâm sự chú ý và chỉ tin tưởng nơi chính mình. Thật khốn cho một giám mục, một linh mục, hay một phó tế nghĩ rằng mình biết hết mọi sự, luôn luôn có câu trả lời đúng cho mọi chuyện, và không cần tới ai hết! Trái lại, ý thức mình là người đầu tiên là đối tượng lòng thương xót và cảm thương của Thiên Chúa phải dẫn đưa một vị thừa tác tới chỗ luôn luôn khiêm tốn và cảm thông đối với người khác. Tuy ý thức là mình được mời gọi can đảm giữ gìn kho tàng đức tin (x. 1 Tm 6,20) người ấy sẽ lắng nghe dân chúng. Thật vậy, họ ý thức được rằng mình luôn luôn học hỏi được điều gì đó, cả từ những người còn xa đức tin và xa Giáo Hội. Rồi với các anh em mình tất cả phải đưa tới chỗ có một cung cách hành xử mới, mang dấu vết của sự chia sẻ, tinh thần đồng trách nhiệm và sự hiệp thông.

Các bạn thân mến, chúng ta phải luôn luôn nhớ ơn Chúa, bởi vì nơi con người và trong chức thừa tác của các giám mục, linh mục và phó tế, Người tiếp tục hướng dẫn và đào tạo Giáo Hội Người, khiến cho nó lớn lên dọc dài con đường nên thánh. Đồng thới chúng ta cũng phải tiếp tục cầu nguyện, để cho các Mục Tử của các cộng đoàn chúng ta là hình ảnh sống động của sự hiệp thông và tình yêu thương của Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha đã chào các đoàn hành hương đến từ các nườc Âu châu và Bắc Mỹ cũng như tín hữu đến từ Nam Phi, Indonesia, Nhật Bản, Argentina, Mehicô và Brasil.

Chào các tín hữu nói tiếng Arập, đặc biệt đoàn hành hương đến từ Giordania, Đức Thánh Cha khẳng định rằng lời mời gọi của Thiên Chúa luôn luôn là hoa trái lòng quảng đại, cảm thông và thương xót của Người. Ngài xin họ cầu nguyện cho các chủ chăn, để các vị thi hành chức thừa tác với lòng khiêm nhường, tinh thần phục vụ và biết lắng nghe, và trở thành hình ảnh sống động của sự hiệp thông và tình yêu của Chúa. Đức Thánh Cha xin Chúa chúc lành cho họ và che chở họ khỏi kẻ dữ.

Chào các đoàn hành hương Ba Lan ngài nhắc tới kỷ niệm 25 năm lễ phong chân phước cho tu huynh Alberto Adam Chmielowski. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi người là ”Bổn mạng của sự thay đổi khó khăn của đất nước chúng ta và Âu châu”. Chúng ta hãy học hỏi nơi thánh nhân việc thực thi tình yêu thương xót đối với những người cần được trợ giúp là hình ảnh sống động của Chúa Kitô.

Với các tín hữu Mehicô Đức Thánh Cha chia buồn về vụ các sinh viên học sinh mất tích, nhưng thật ra là bị ám sát. Thực tại thê thảm này của nạn tội nằm phạm đàng sau việc buôn bán ma túy. Nó liên quan tới anh chị em và gia đình anh chị em.

Trông thấy một nhóm quân nhân Chile Đức Thánh Cha nói trong những ngày này chúng ta đang kỷ niệm 30 năm ký kết hiệp định hòa bình giữa Argentina và Chile, liên quan tới việc tranh chấp biên giới giữa hai bên. Hiệp định đã có thể ra đời nhờ ý chí đối thoại và sự can thiệp của Đức Gioan Phaolô II và Đức Hồng Y Samore. Đức Thánh Cha cầu mong tất cả các dân tộc đang xung khắc và tranh chấp nhau liên quan tới biên giới, văn hóa và mọi lý do khác tìm giải quyết chúng qua việc đối thoại, chứ không qua sự tàn ác của chiến tranh.

Với các đoàn hành hương nói tiếng Ý Đức Thánh Cha đặc biệt chào các Nữ tu Scalabrini, các Nữ tu Cát minh thừa sai của Chúa Giêsu Hài đồng đang họp tổng tu nghị, các sinh viên và giáo sư Phân khoa Khoa học xã hội của Đại học giáo hoàng Salesien nhân kỷ niệm 25 năm thành lập; các gia đình có con cái là nạn nhân giao thông và những người bị mất tích. Ngài cầu nguyện cho những người đã thiệt mạng vì các tai nạn lưu thông cũng như cho những người đã không bao giờ trở về với tình yêu thương gia đình.

Sau khi xướng tên của nhiều nhóm khác Đức Thánh Cha cầu chúc chuyến hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ củng cố nơi họ ý thức thuộc gia đình Giáo Hội.

Chào các bạn trẻ, các người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới ngài nhắc cho mọi người biết hôm thứ ba vừa qua Giáo Hội mới mừng lễ thánh Martino thành Tours. Ngài xin cho gương bác ái lớn lao của thánh nhân nêu gương sống hiến thân cho các bạn trẻ; lòng tín thác của người nơi Chúa Kitô Cứu Thế nâng đỡ các người đau yếu trong những lúc khổ đau; và sức mạnh tinh thần của thánh nhân nhắc nhớ cho các cặp vợ chồng mới cưới lấy đức tin làm trung tâm điểm cuộc sống hôn nhân.

Sau cùng Đức Thánh Cha cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho tất cả mọi người.

Linh Tiến Khải
Nguồn: VietVatican

Tháng Tình Yêu của Thiên Chúa và đức ái của chúng ta

06:16 |
Bạn thân mến,
Bạn có để ý đến tháng Mười Một không, chắc chắn là có, vì đó là tháng các Linh Hồn, tức là tháng mà Giáo Hội dành cho các Linh Hồn đã qua đời, nhưng chưa được lên Thiên Đàng vì chưa đền tội xong, tôi mời bạn cùng tôi nhìn đến khía cạnh khác của tháng Mười Một, đó là -có thể nói- tháng Tình Yêu của Thiên Chúa và đức ái của chúng ta.
1. Tình Yêu của Thiên Chúa
Thánh Gioan tông đồ nói: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gn 4, 8b), tình yêu này được bộc lộ ra dễ thấy nhất, đó là Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến trong thế gian, để nhờ Con Một ấy –Chúa Giêsu Ki-tô- mà chúng ta được sống (1 Gn 4, 9b). Và nhờ Máu Thánh của Con Một ấy mà tất cả chúng ta đều được tha tội ở đời này và đời sau trong Luyện Ngục.
Tháng các Linh Hồn, nếu chúng ta suy nghĩ đến tình yêu của Chúa dành cho nhân loại, thì chắc chắn chúng ta cũng thấy được lòng thương xót của Ngài qua Giáo Hội, đó là, Giáo Hội qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, đã mở kho tàng ân sủng của Thiên Chúa mà ban phát cho con cái của mình, để nhờ các ân sủng mà họ đã lãnh nhận, qua việc hy sinh hãm mình, siêng năng chịu lễ, lần chuỗi Mân Côi.v.v…họ cầu nguyện cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục được mau hưởng Nhan Thánh Chúa trên Thiên Đàng.
Tình yêu của Thiên Chúa không những trãi từ đời nọ đến đời kia (Lc 1, 50), mà còn ngay cả đời sau, tức là các Linh Hồn trong Luyện Ngục cũng được tình yêu của Ngài thánh hóa, rửa sạch qua ngọn lửa yêu mến, và bằng những lời cầu nguyện của các anh chị em đang còn sống ở trần gian luôn kết hợp với Thiên Chúa bằng ân sủng cùa Ngài.
Các Linh Hồn trong Luyện Ngục là những tín hữu khi còn sống mà tình yêu của họ chưa đáp trả đủ tình yêu của Thiên Chúa dành cho họ, nên họ cần phải được tinh luyện trong lò lửa yêu mến của luyện tội, để Linh Hồn họ hoàn toàn trong trắng khi diện kiến Nhan Thánh Chúa. Đó chính là tình yêu cao quý nhất mà Thiên Chúa ban cho con cái của Ngài.
2. Đức ái của chúng ta
“Khi ấy, ông Giu-đa Ma-ca-bê quyên góp được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giê-ru-sa-lem để xin dâng hy lễ tạ tội; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại” (Mcb 12, 43-45) Qua đoạn Thánh Kinh trên đây, chúng ta biết rằng, niềm tin người chết sẽ sống lại đã có từ thời xa xưa, và việc cầu nguyện cho người đã chết, cũng đã được chứng thực do ông Ma-ca-bê chủ động thực hiện.
Tháng Mười Một, Giáo Hội dành hẳn nguyên một tháng để chúng ta –những người còn đang sống- cầu nguyện cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục; một tháng tuy không nhiều, nhưng cũng đủ để cho những người con báo hiếu cha mẹ, để những người đang sống tỏ tình liên đới với người đã chết, để cho những ai chưa một lần cầu nguyện cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục được có cơ hội “ra tay” làm nghĩa hiệp, bởi vì tất cả chúng ta –người sống cũng như các Linh Hồn trong Luyện Ngục- đều trở nên một thân thể của Chúa Giêsu nhờ bí tích Rửa Tội, và đã cùng ăn một tấm Bánh và uống cùng một Chén là Mình và Máu Thánh của Chúa Giêsu.
Tình yêu liên đới này được thực hiện bằng thái độ anh hùng của chúng ta: tăng thêm giây phút cầu nguyện cho các Linh Hồn, hy sinh nhiều hơn nữa cho các Linh Hồn, hãm mình đền tội cách dứt khoát cho các Linh Hồn.v.v…đó chính là đức ái (tình yêu) của chúng ta có thể làm được cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục, bởi vì, những Linh Hồn trong Luyện Ngục ấy không thể làm gì được để tự cứu mình, tất cả đều nhờ vào lời cầu nguyện của chúng ta mà thôi.
Bạn thân mến,
Tôi tin chắc rằng, bạn cũng có người thân đã qua đời, và bạn chỉ nhớ đến họ những lúc bạn rảnh việc hoặc nhớ đến họ vào ngày giỗ của họ mà thôi, bởi vì như người ta thường nói là “xa mặt cách lòng”, huống gì họ đã chết.
Tháng Mười Một là một ân huệ lớn cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục, và là một cơ may lớn cho bạn và cho tôi, để chúng ta nhớ đến những người thân yêu đã qua đời, bạn không thể nào nói rằng mình bận việc nên không nhớ cầu nguyện cho các Linh Hồn trong tháng Mười Một này, bạn cũng không thể viện lý do để khỏi phải đi lễ trong ngày lễ các các Linh Hồn (2/11), bởi vì trong ngày này, mỗi linh mục buộc phải dâng ba Thánh Lễ để cầu nguyện cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục.
Cuối cùng, bạn đừng bao giờ quên cầu nguyện cho các Linh Hồn mồ côi, tức là những Linh Hồn không có ai nhớ để cầu nguyện cho họ cả, lời cầu nguyện của bạn sẽ làm cho họ sung sướng và mau chóng lên Thiên Đàng, bởi vì có những Linh Hồn chỉ cần một hy sinh nhỏ của bạn là được cứu thoát, hoặc có những Linh Hồn chỉ cần một Thánh Lễ rất sốt sắng của chúng ta là họ được về ngay bên Chúa trên Thiên Đàng.
Đố bạn, trên Thiên Đàng các Linh Hồn ấy có nhớ mà cám ơn chúng ta không? Chắc chắn là có, bởi vì các thánh trên Thiên Đàng không bao giờ quên những ân nhân đã cầu nguyện và hy sinh cho các ngài, và quà tặng mà các ngài dành cho các ân nhân của mình chính là: ngày đêm các ngài luôn cầu bầu cho chúng ta trước tòa Thiên Chúa. Hạnh phúc quá, phải không bạn?
Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài csjb

“Lòng tin lớn bằng hạt cải” (10.11.2014 – Thứ hai, sau Chúa Nhật XXXII Thường Niên)

06:42 |
Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: «Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc !» Nó cũng sẽ vâng lời anh em.
Trong bài Tin Mừng (Lc 17, 1-6) hôm nay. Đức Giê-su nói với các môn đệ về hai vấn đề liên quan sống chung:
Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã; nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã! Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã.
Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: “Tôi hối hận”, thì anh cũng phải tha cho nó.”
Khi nghe Đức Giê-su đưa ra hai lời giảng dạy rất mạnh mẽ và triệt để về đời sống cộng đoàn, hay nói rộng hơn, là về đời sống chung trong gia đình, trong các nhóm, trong đời tu, thì các Tông Đồ thưa với Ngài rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Tại sao vậy? Tại sao khi nghe lời của Đức Giê-su, các Tông Đồ lại ý thức về tình trạng đức tin yếu kém của mình và xin Chúa thêm lòng tin?
Như kinh nghiệm cho chúng ta thấy, đơn giản là bởi vì, để sống được với nhau và qua đó xây dựng đời sống chung, chúng ta cần tin nhau biết bao, và để có thể tin nhau, chúng ta cần tin vào Chúa biết bao:
*  Tin Chúa đã đặt để chúng ta bên nhau trong cùng một mái ấm, cùng một cộng đoàn; và hơn thế nữa, chúng ta tin Chúa ban chúng ta cho nhau, và ban chúng ta cho nhau như thế đó, không hơn không kém, và nhất là không như chúng ta tưởng tượng hay ảo tưởng.
*  Chúng ta tin Chúa đang hiện diện nơi người chị em hay anh em; và hơn thế nữa, tin Chúa đang làm việc nơi người khác, đang kiên nhẫn, đang bao dung, đang tha thứ, đang biến đổi và làm cho lớn lên người chị em hay anh em của chúng ta, cho dù người này có phạm lỗi như thế nào, có nhỏ bé như thế nào. Nhỏ bé ở đây chúng ta có thể hiểu theo nhiều bình diện khác nhau: nhỏ tuổi, chậm chạp, yếu sức khỏe, kém khả năng, vụng về, giới hạn, mỏng dòn.
*  Tin nơi những gì tốt đẹp vốn có nơi người chị em hay người anh em. Có rất nhiều những điều tốt đẹp nơi người khác, nhưng đôi khi chúng ta bị mù quáng bởi những điều chưa hoàn thiện, hay đơn giản là không hợp hay khác với tính tình hay quan niệm của chúng ta. Có thể nói, những điều tốt đẹp có thể bù đặp lại dư tràn những điều chưa tốt đẹp.
Chúng ta chỉ cần nhớ lại sự thật này, thì đủ để thay đổi cái nhìn và nhất là tâm tình sâu xa của con tim về người anh em: anh ấy (hay chị ấy) đã hi sinh và từ bỏ rất nhiều để sống ơn gọi ở nơi đây, đang có những khó khăn, những thử thách, những vấn đề mà mình không thể biết hết, và đang phải cố gắng và đôi khi phải chiến đầu từng ngày để sống ơn gọi này. Vì thế, chúng ta cần gánh vác cho nhau, thay vì chất thêm gánh nặng. Đức Giê-su nói:
Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: «Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc !» Nó cũng sẽ vâng lời anh em.
(c. 6)
Đức Giê-su dùng những hình ảnh thật cụ thể để nói về sức mạnh thiêng liêng của lòng tin: lòng tin có sức mạnh chuyển dời sự vật, không phải một cách ngoạn mục ở bên ngoài, nhưng những sự vật ngăn cản chúng ta đến với Chúa và đến với nhau. Không có niềm tin “bằng hạt cải” nơi Chúa, khiến cho chúng ta không dám tin tưởng nhau bất chấp tất cả, chúng ta không thể xây dựng mái ấp yêu thương được. Như các Tông Đồ, mỗi người chúng ta hãy ước ao tận đáy lòng:
Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con.
Tin Chúa yêu thương và bao dung “đến bảy lần”, nghĩa là vô hạn từng người trong chúng ta, dù chúng ta là ai và ở trong tình trạng nào, để con tim của chúng ta được mở rộng để có thể yêu thương và bao dung lẫn nhau.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộ

Đức Thánh Cha tiếp kiến Phong trào Hướng đạo Công Giáo Italia

21:52 |
VATICAN. Sáng ngày 8-11-2014, ĐTC đã tiếp kiến 7 ngàn tráng sinh thuộc Phong trào Hướng đạo Công Giáo Italia, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập ngành này ở Italia.

Trong bài huấn dụ, ĐTC phân tích nguyên ngữ của phong trào ”Scoutisme” là ”hướng đạo” và ngài khuyến khích các thành viên phong trào này hướng đạo trong gia đình, trong thiên nhiên và trong thành thị. Ví dụ về việc hướng đạo trong thiên nhiên, ngài nói:

”Thời đại chúng ta ngày nay không thể không chú ý đến vấn đề môi sinh, là điều sinh tử đối với sự sống còn của con người, và không thể thu hẹp vấn đề này như một vấn đề hoàn toàn chính trị mà thôi. Môi sinh học có một chiều kích luân lý liên hệ tơi mọi người, vì thế không ai được phép lơ là. Trong tư cách là môn đệ Chúa Kitô, chúng có có thêm một lý do nữa để liên kết với mọi người thiện chí trong việc bảo vệ và gìn giữ thiên nhiên, môi trường. Thực vậy, thiên nhiên là một món quà Đấng Tạo Hóa đã ủy thác vào tay chúng ta. Toàn thể thiên nhiên xung quanh cũng là điều đã được Thiên Chúa dựng nên như chúng ta, cùng với chúng ta, và trong một vận mệnh chung, hướng đến việc tìm thấy nơi Thiên Chúa sự viên mãn và cùng đích.. Sống gần gũi với thiên nhiên, như anh chị em đang làm, không những bao hàm sự tôn trọng thiên nhiên, nhưng còn dấn thân cụ thể để loại trừ những phung phí của một xã hội có xu hướng gạt bỏ những vật dùng còn dùng được và có thể tặng cho người đang cần”.

Sau cùng, ĐTC khuyến khích các tráng sinh hướng đạo Công Giáo sống giữa lòng xã hội như men làm dậy bột, đóng góp chân thành cho việc thực thi công ích và vui mừng đề nghị cho tha nhân các giá trị Tin Mừng (SD 8-11-2014)

G. Trần Đức Anh OP

Đền thờ

06:25 |
Hôm nay, Giáo Hội mừng kỷ niệm Lễ Cung Hiến Đền Thờ Latêranô. Đại Thánh Đường thánh Gioan Latêranô là nhà thờ Chính Tòa của Giáo Phận Rôma và của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là giám mục Rôma. Đền thờ Latêranô là đền thờ cổ kính và quan trọng nhất của Giáo Hội Tây Phương.
Đền thờ này là đền thờ Mẹ của Giáo Hội Công Giáo. Đền thờ tọa lạc bên ngoài ranh giới của thành phố Vatican, nhưng ở bên trong thành phố Rôma. Vào đầu thế kỷ thứ tư, sau khi ra chiếu chỉ tha đạo, Hoàng đế Constantine Cả đã cho xây đền thờ đầu tiên tại Rôma vào năm 320. Hoàng Đế xây Đền thờ để tôn vinh danh Chúa Cứu Thế và giúp đoàn dân Chúa có nơi chính thức để cầu nguyện và cử hành các nghỉ lễ thờ phượng. Đến thời Đức Giáo Hoàng Gregorio I (590-604) đền thờ được dâng kính cả hai thánh Gioan Tẩy Giả và Gioan Tông Đồ, nên được gọi là Đền Thờ thánh Gioan Latêranô.
Đền thờ Latêranô đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm và thử thách khó khăn cả trong đạo lẫn đời. Đền thờ cũng đã nhiều lần bị tàn phá bởi thiên tai động đất và hỏa hoạn phá đổ hoang tàn, nhưng qua thời gian, đã được các vị giáo hoàng tiếp tục xây dựng lại, trùng tu và sửa chữa trên nền xưa cũ. Từ thế kỷ thứ 4, đền thờ này là trung tâm của Giáo Hội Rôma. Đền thờ được trang hoàng lộng lẫy và trưng bày các kỳ công nghệ thuật qua sự cống hiến tài năng của các nghệ nhân. Ngày nay, đền thờ Latêrano vẫn đứng sừng sững tại Rôma. Hằng năm, Đức Thánh Cha vẫn tới cử hành lễ trọng với các vị Hồng Y, Giám mục và các linh mục Rôma. Đền thờ là nơi Chúa hiện diện với đoàn dân Chúa.
Chúng ta tìm hiểu một chút về các danh xưng những nơi thờ tự: Vương Cung Thánh Đường (Basilica), Nhà thờ Chính Tòa (Cathedral) và Đền Thờ (Shrine), Nhà Thờ hay Thánh Đường (Church) và Nhà Nguyện (Chapel). Tuy nhiên Vương Cung Thánh Đường có thể là một Đền Thờ như Đền Thờ Latêranô.  Nhà thờ Chính Tòa cũng có thể là Vương Cung Thánh Đường. Có 7 Đại Vương Cung Thánh Đường (4 Đvctđ chính thức: Thánh Phêrô, thánh Gioan Latêranô, Đức Bà Cả, thánh Phaolô Ngoại Thành và (3 Đvctđ phụ: Thánh Lôrensô, thánh Sebastinô và Thánh Giá) và có rất nhiều Tiểu Vương Cung Thánh Đường là những ngôi giáo đường quan trọng ở Rôma hoặc khắp nơi trên thế giới nhận được danh xưng ‘Vương Cung Thánh Đường” do Đức Thánh Cha đặt để.
Nhà thờ Chính Tòa có thể là Vương Cung Thánh Đường. Nhà thờ Chánh Tòa hay Nhà Thờ Lớn là nhà thờ chính của một Giáo phận, vị giám mục địa phận chính là cha xứ của Nhà thờ Chánh Tòa và có thể bổ nhiệm một cha sở để chăm sóc mục vụ. Đền hay Đền Thờ là một nhà thờ, một thánh đường hay một nhà nguyện có thánh tích. Một Đền Thờ có thể được chỉ định để cổ võ lòng sùng kính riêng tư nào đó. Thí dụ: Vương Cung Thánh Đường của Đền Thờ Đức Mẹ Vô Nhiềm Quốc Gia tại Washington, D.C., các Đền Thờ được vị giám mục địa phương qui định. Mỗi giáo xứ có Nhà thờ, còn gọi là giáo đường hay thánh đường (Church), có linh mục quản xứ đảm nhiệm. Nhà thờ nhỏ, Nhà nguyện và Phòng cầu nguyện (Chapel) được hiểu là nơi được đấng bản quyền ban phép dùng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, vì lợi ích của cộng đoàn hay một nhóm giáo dân có thể tụ họp cầu nguyện.
Sau khi xuất Ai-cập, dân Do-thái đã lữ hành trong hoang địa khoảng 40 năm và sau cùng, họ đã tiến chiếm miền Đất Hứa và định cư lập nghiệp tại đó. Để tổ chức như một dân nước, họ đã nài xin Chúa ban cho các vị Vua, để cai trị như những dân tộc chung quanh. Saulê được chọn làm vua đầu tiên, rồi đến vua David và Sôlômon (1020-939 BC), trong thời gian trị vì, vua Salômon đã xây Đền thờ Giêrusalem để kính thờ Thiên Chúa. Tiên tri Ezekiel (592-571 BC) khi đi rao giảng, trong thị kiến đã nhắc tới một Đền Thờ, nguồn mạch của mọi ân sủng: Người ấy dẫn tôi trở lại phía cửa Đền Thờ và này: có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Đền Thờ quay về phía đông. Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ (Ez 47, 1). Hình ảnh Đền Thờ Giêrusalem vĩnh cửu là nơi qui tụ mọi dân mọi nước.
Hằng năm, Chúa Giêsu cùng cha mẹ lên Đền Thờ Giêrusalem để thi hành việc thờ phượng và dâng lễ tạ ơn theo Lề Luật. Khi đi ra rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng thường lui tới khu vực Đền Thờ, nơi tụ họp đông người đến từ tứ xứ. Thấy cảnh mua bán súc vật, trao đổi tiền bạc và tranh dành, Chúa Giêsu đã không hài lòng với cảnh bát nháo tục hóa này. Vì lòng nhiệt tâm cho Nhà Chúa: Chúa Giêsu nói những kẻ bán bồ câu: Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán (Ga 2, 16). Chúa Giêsu gọi nơi Đền Thờ là nhà Cha Tôi. Vì Đền Thờ là nơi thánh, dành để thờ phượng và thực hành các việc đạo đức thuộc tôn giáo. Qua sự kiện này, Chúa Giêsu đã loan báo về Đền Thờ sống động là thân thể Người: Đức Chúa Giêsu đáp: Các ông cứ phá đền thờ này đi; nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (Ga 2, 19). Các Đền thờ đã xây dựng bằng vật chất được thánh hiến để dùng vào việc thánh.Khi các đền thờ bị phá hủy, hư hại, bị tục hóa và bỏ trống, thì không còn giá trị trong việc phụng thờ. Nhưng Đền Thờ Đức Giêsu, chính là thân thể Người, đã bị giết và đã sống lại, được xây dựng trong niềm tin và hiệp nhất của mọi thành viên trong Giáo Hội.
Thánh Phaolô nói đến nền móng căn bản của tất cả các đền thờ: Vì không có ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giêsu Kitô (1Cor 3, 11). Đức Kitô là trở thành trung tâm điểm của mọi nơi thờ phượng. Trong tất cả các đại thánh đường, nhà thờ chính tòa và nhà thờ… được gọi là nhà thánh dành riêng cho việc thờ phượng. Trên gian cực thánh, tại chính điện, có đặt Tượng Chúa Giêsu chịu nạn trên thánh giá. Gian cung thánh, có đặt Nhà Tạm, nơi Chúa Giêsu ngự trong bí Tích Thánh Thể và bộ sách Kinh Thánh. Tùy theo sự trang trí sắp đặt nơi mỗi nhà thờ, chung quanh gian cung thánh có thể đặt tượng ảnh Đức Maria, thánh Giuse và các vị thánh. Ở trung tâm gian cung thánh có bàn thờ để cử hành hy lễ Thánh Thể. Mọi cử hành phụng vụ đều qui về Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chịu chết và sống lại vinh quang.
Nhà thờ là nơi các tín hữu tụ họp để dâng thánh lễ và cùng nhau dâng lời ca tiếng hát thờ phượng, chúc tụng, tôn vinh và cảm tạ Thiên Chúa. Nhà thờ là nơi được thánh hiến để mọi người đến cầu nguyện và gặp gỡ Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Chúng ta cần giữ thái độ trang nghiêm và cung kính. Điều quan trọng hơn là mỗi cá nhân là đền thờ sống động của Thiên Chúa. Thánh Phaolô viết: Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao? (1Cor 3, 16). Chúa Giêsu hiện diện với chúng ta dưới nhiều cách thế. Chúa hiện diện trong mỗi người, vì chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh của Chúa. Chúa còn hiện diện trong nhà thờ, nơi cộng đoàn tụ họp, nơi Bí tích Thánh Thể và trong Lời Chúa. Chúa Giêsu phán: Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ (Mt 18, 20).
Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã muốn cư ngụ giữa chúng con. Chúa đã dùng những nơi thánh, vật thánh và người thánh để giúp chúng con bước đến gần Chúa hơn. Xin cho chúng con biết quí trọng những nơi thánh và năng viếng thăm Nhà Chúa.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng