Phiên họp thứ 2 của Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới về gia đình

07:16 |
ATICAN. Lúc 9 giờ sáng thứ ba, 7-10-2014, Thượng HĐGM thế giới khóa ngoại thường thứ III về ”những thách đố mục vụ gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng” đã nhóm phiên khoáng đại thứ 3 trước sự hiện diện của ĐTC và 180 nghị phụ. ĐHY Antonio Luis Tagle, TGM Manila, chủ tọa phiên họp theo lượt.

ĐHY loan báo chủ đề của phiên họp là ”Tin Mừng gia đình và luật tự nhiên” (I,3) và ”gia đình và ơn gọi của con người trong Chúa Kitô' (I, 4) như đã được trình bày trong chương 3 và 4 thuộc phần thứ I của tài liệu làm việc.
Sau lời giới thiệu của ĐHY Tagle, đôi vợ chồng dự thính viên George và Cynthia Campos người Philippines đã trình bày chứng từ. Ông George là Giám đốc tổ chức ”Các đôi vợ chồng vì Chúa Kitô” và bà Cynthia là thành viên của tổ chức này. Cả hai đều thuộc tổng giáo phận Manila.

Chúng tôi sẽ tường thuật nội dung phiên họp này trong bản tin tới.

Họp báo của Cha Lombardi

Khác với các công nghị GM thế giới trước đây, lần này Văn phòng Tổng thư ký Thượng HĐGM không phổ biến các bản tóm tắt bài phát biểu do chính nghị phụ thực hiện. Trái lại, mỗi ngày đều có một cuộc họp báo ngắn để tường trình tổng quát cho giới báo chí những gì đã được trình bày trong phiên họp.

Trưa thứ hai 6-10-2014, sau phiên khoáng đại thứ I, cha Lombardi Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, đã chủ tọa cuộc họp báo này với sự tham dự của ĐHY Peter Erdoe, người Hungari, Tổng trường trình của Thượng HĐGM, ĐHY André Vingt-Trois, TGM Paris là người đã chủ tọa phiên họp thứ I, và ĐHY Bruno Forte, Tổng thư ký đặc biệt của Thượng HĐGM đang tiến hành.

ĐHY Peter Erdoe

Ngỏ lời với giới báo chí, ĐHY Peter Erdoe nói đến một vài thay đổi trong phương pháp của Thượng HĐGM, vì ĐTC đã thay đổi qui luật của Công nghị GM, chẳng hạn ngài qui định rằng từ nay ngôn ngữ chính thức của Thượng HĐGM là tiếng Ý, thay vì tiếng la tinh như từ trước đến nay, dĩ nhiên là có phần thông dịch. Sự thay đổi này cũng làm cho công việc của Tổng tường trình viên dễ dàng hơn. Trong những Công nghị GM trước đây, các nghị phụ phải nghe bài tường trình cả tiếng đồng hồ bằng tiếng la tinh, và đó là điều không dễ dàng đối với mọi người.
Những thay đổi đáng kể khác trong phương pháp liên quan đến nội dung và cách thức soạn bản tường trình trước khi thảo luận, nhất là vì sau khi nhận được Tài liệu làm việc, các Nghị Phụ được yêu cầu gửi trước bài phát biểu của mình về Văn phòng Tổng thư ký trước cuối tháng 9 vừa qua. Vì thế, nhiều bài phát biểu đã được gửi về, và dựa trên các văn bản đó, chúng tôi dang soạn bài tường trình sau cuộc thảo luận. Dĩ nhiên cũng cần theo dõi các bài phát biểu của các nghị phụ trong những ngày tại tại Hội trường THĐGM, vì không phải tất cả các nghị phụ đều trình bày giống như đã viết trên giấy và gửi về trước, ngoài ra cũng có những bài phát biểu tự do. Tóm lại là phải thu thập tất cả để soạn bản tường trình sau cuộc thảo luận. Khi soạn bản tường trình trước cuộc thảo luận, chúng tôi cũng có thể để ý đến nội dung của một số bài phát biểu trên giấy đã được gửi về. Chúng tôi nghĩ, như thế có thể nhắc đến vắn tắt một số lập trường quan trọng từ những câu trả lời, và dĩ nhiên chúng tôi cũng dựa trên Tài liệu làm việc. Văn kiện này thực ra đã là kết quả của cuộc đúc kết các bản trả lời từ các nơi gửi về. Vì thế có thể nói là toàn Giáo Hội được tham khảo ý kiến hai lần. Tóm lại công việc của chúng tôi như tường trình viên là tổng hợp những gì được trình bày, và nói một cách thơ phú hơn, công việc đó hệ tại ”lắng nghe tiếng nói của Giáo Hội hoàn vũ”.

ĐHY Vingt-Trois

Tiếp lời ĐHY Erdoe, ĐHY André Vingt-Trois, TGM Paris, một trong 3 vị Chủ tịch thừa ủy, là người đã chủ tọa phiên khoáng đại đầu tiên của Thượng HĐGM sáng thứ hai 6-10, vừa qua, đã lên tiếng lưu ý các ký giả về cám dỗ muốn diễn tả kinh nghiệm của Thượng HĐGM theo kinh nghiệm mình đã có về các cuộc thảo luận tại quốc hội.
ĐHY nói: ”Trong cuộc thảo luận tại quốc hội, người ta cố gắng đạt tới một mục đích là đi tới một đa số và một thiểu số. Các chế độ dân chủ, hay ít là các chế độ ”mặc bộ áo dân chủ”, nói là đa số thắng thiểu số và thiểu số phải phục tùng đa số. Nhưng công việc tại Thượng HĐGM không phải như vậy. Các nghị phụ ở đây không phải để đạt được đa số từ những lập trường được trình bày. Các vị ở đó là để làm việc, làm sao phát triển được một ý chí chung trong Giáo Hội. Ý chí này là động viên về những mục tiêu rõ ràng và chính xác bao nhiêu có thể, và phần còn lại thì để cho các Giáo Hội địa phương thi hành.

Phiên họp khoáng đại thứ 2

Lúc 5 giờ chiều thứ hai 6-10-2014, Thượng HĐGM đã nhóm phiên khoáng đại thứ 2 với sự hiện diện của ĐTC và 180 nghị phụ và bàn về chủ đề: 'Ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình” (I,1), và ”Việc hiểu biết và đón nhận Kinh Thánh và các văn kiện của Giáo Hội về hôn nhân và gia đình” (I,2). Hai đề tài này thuộc chương thứ I và thứ II trong phần thứ I của Tài liệu làm việc.

Chứng từ của ông bà Ron và Mavis Pirola

Mở đầu mọi người đã nghe chứng từ của ông bà Ron và Mavis Pirola người Australia, dự thính viên tại Thượng HĐGM này. Ông bà là đồng giám đốc Hội đồng Công Giáo Australia về hôn nhân và gia đình. Họ kể lại kinh nghiệm trong gia đình về việc sống căng thẳng giữa một bên là khẳng định chân lý, và bên kia là sự cảm thông và từ bi. Cụ thể là người con trai của Ông bà Pirola là một người đồng tính luyến ái. Một hôm, nggười con ấy nói là muốn đưa người bạn trai của anh ta về nhà. Ông bà là người hoàn toàn tin tưởng và chấp nhận giáo huấn của Giáo Hội, nhưng phải làm sao trước yêu cầu của người con? Ông bà bị giằng co giữa một bên là tôn trọng và chấp nhận chân lý và giáo huấn của Hội Thánh, và bên kia là từ bi yêu thương người con. Ông bà biết rằng các cháu muốn ông bà đón nhận đứa con và bạn trai của anh ta trong gia đình. Vì thế câu trả lời của ông bà có thể được tóm tắt trong câu: ”Đó là con chúng tôi!”.

Theo ông bà Ron và Mavis Pirola, điều này có thể là ”kiểu mẫu loan báo Tin Mừng cho các giáo xứ khi gặp những hoàn cảnh tương tự”. Vai trò của Giáo Hội là làm cho thế giới nhận biết tình thương của Thiên Chúa.
Ông bà dự thính viên còn kể thêm rằng: ”Một người bạn gái của chúng tôi ly dị và cho biết là nhiều khi không cảm thấy hoàn toàn được đón nhận trong giáo xứ của bà. Nhưng bà vẫn đi dự lễ thường xuyên và không than thở gì với các con của bà. Đối với giáo xứ, bà là một gương mẫu về sự can đảm dấn thân đương đầu với những nghịch cảnh. Từ những người như bà chúng ta học cách nhận ra rằng tất cả chúng ta mang những thương tích nội tâm trong cuộc sống của mình. Ý thức về những vết thương nội tâm của mình, giúp chúng ta rất nhiều trong việc giảm bớt xu hướng xét đoán người khác, một thái độ cản trở việc loan báo Tin Mừng”.

Nội dung phát biểu của các nghị phụ

Sau chứng từ của ông bà Pirola, một số nghị phụ đã phát biểu ý kiến, mỗi vị tối đa là 4 phút. Nội dung các bài phát biểu của các nghị phụ có thể tóm tắt như sau:

Đi từ tiền đề gia đình là tế bào cơ bản của xã hội loài người, là chiếc nôi của tình yêu nhưng không, và việc nói về hôn nhân và gia đình bao hàm một sự giáo dục về lòng chung thủy, nhiều nghị phụ nhấn mạnh rằng cần phải bảo vệ gia đình vì tương lai của nhân loại tùy thuộc gia đình.

Ngoài ra, từ nhiều phía, người ta thấy cần phải thích ứng ngôn ngữ của Giáo Hội, để đạo lý của Hội thánh về gia đình, về sự sống, tính dục, được hiểu đúng đắn: cần đối thoại với thế giới, noi gương Công đồng chung Vatican 2, nghĩa là có thái độ cởi mở phê bình, nhưng chân thành. Lý do vì nếu Giáo Hội không lắng nghe thế giới, thì thế giới cũng chẳng nghe Giáo Hội. Và cuộc đối thoại có thể dựa trên những đề tài quan trọng như phẩm giá bình đẳng giữa người nam và người nữ, sự phủ nhận bạo lực.

Có nghị phụ nói: chúng ta không phải giải thích Tin Mừng, nhưng là chứng tỏ Tin Mừng và nhất là cần có sự can dự của giáo dân trong việc loan báo Tin Mừng, nêu rõ đoàn sủng truyền giáo của giáo dân. Việc loan báo Tin Mừng không thể là một lý thuyết xuông, nhưng phải làm sao để chính các gia đình làm chứng tá cụ thể về vẻ đẹp và về chân lý Phúc Âm, Thách đố ở đây là đi từ một thế tự vệ tới một thái độ đề nghị và tích cực, nghĩa là tái đẩy mạnh khả năng đề nghị gia sản đức tin với một ngôn ngữ mới, hy vọng, nhiệt thành, hăng say, trình bày chứng tá có sức thuyết phục, bắc những nhịp cầu giữa ngôn ngữ của Giáo Hội và ngôn ngữ của xã hội. Theo nghĩa đó có nghị phụ đề nghị sử dụng viêc huấn giáo Kinh Thánh hơn là thần học suy lý, vì nói đúng ra, con người không còn thỏa mãn vì sự ích kỷ và tìm kiếm những lý tưởng. Cũng vì con người muốn hạnh phúc và Kitô hữu biết rằng hạnh phúc là chính Chúa Kitô, nhưng họ không tìm được ngôn ngữ thích hợp để nói điều đó cho thế giới. Trái lại Giáo Hội phải có sức thu hút, làm việc để thu hút, với thái độ thân thiện đối với thế giới.

- Về những đôi vợ chồng gặp khó khăn, có nghị phụ nhấn mạnh rằng Giáo Hội phải gần gũi họ trong sự cảm thông, tha thứ và từ bi: lòng từ bi là phẩm tính đầu tiên của Thiên Chúa, nhưng cần nhìn sự từ bi trong bối cảnh công lý, chỉ như thế ta mới tôn trọng thực sự toàn bộ kế hoạch của Thiên Chúa.

Hộn nhân đang và vẫn còn là bí tích bất khả phân ly, nhưng vì chân lý là Chúa Kitô, một ngôi vị, chứ không phải là một toàn bộ các qui luật, nên điều quan trọng là duy trì những nguyên tắc, tuy thay đổi những hình thức cụ thể trong việc áp dụng. Tóm lại như ĐGH Biển Đức 16 đã nói, đó là ”sự mới mẻ trong sự liên tục”: Thượng HĐGM này không đặt lại vấn đề đạo lý, nhưng suy tư về Mục Vụ, tức là về sự phân định tinh thần để áp dụng đạo lý ấy trước những thách đố của gia đình ngày nay. Theo nghĩa đó lòng từ bi không loại bỏ các giới răn, nhưng là chìa khóa để giải thích các giới răn.

Ngoài ra, trong Công nghị cũng nhấn mạnh rằng cần phải cứu xét những tình trạng bất toàn với lòng tôn trọng: ví dụ những cặp nam nữ sống chung không kết hôn, nhưng họ sống trong sự chung thủy và với tình yêu thương, trình bày những yếu tố thánh hóa và sự thật. Vì thế điều thiết yếu là trước tiên cần nhìn những yếu tố tích cực, để Thượng HĐGM mang lại can đảm và hy vọng cho cả những hình thức bất toàn của gia đình, những hình thức có thể đề cao giá trị theo nguyên tắc tiệm tiến. Cần thực sự yêu mến các gia đình gặp khó khăn.

Trong bối cảnh một xã hội mà người ta tôn thờ cái tôi của mình, đưa tới sự giải trừ gia đình, cần nêu rõ sự đánh mất ý nghĩa Giao Ước giữa con người với Thiên Chúa. Do đó việc loan báo vẻ đẹp của gia đình, không thể là một khoa thẩm mỹ, trình bày một lý tưởng thuần túy phải bắt chước, nhưng phải trình bày tầm quan trọng sự sự dấn thân chung kết dựa trên Giao Ước của đôi vợ chồng với Thiên Chúa.

- Một điểm thiết yếu khác là sự phủ nhận thái độ giáo sĩ trị, nhiều khi Giáo Hội dường như quan tâm tới quyền bính hơn là phục vụ và vì thế không soi sáng cho tâm hồn con người. Do đó cần tái noi gương Chúa Kitô, tìm lại sự khiêm tốn: việc cải tổ Giáo Hội phải bắt đầu bằng việc cải tổ giáo sĩ, vì nếu các tín hữu thấy các vị mục tử noi gương Chúa Kitô, thì họ sẽ tái gần gũi với Giáo Hội, và như thế Giáo Hội có thể đi từ tình trạng chỉ loan báo Tin Mừng để trở thành người loan báo Tin Mừng.

Và các nghị phụ cũng bàn về đề tài giá trị thiết yếu cảu tính dục trong hôn nhân: thực vậy người ta nói rất nhiều để phê bình tính dục ngoài hôn nhân, đến độ tính dục trong hôn nhân dường như là một sự nhân nhượng đối với một sự bất toàn. Thượng HĐGM nhấn mạnh tới sự cần thiết phải huấn luyện kỹ lưỡng hơn cho các LM, các chính sách bênh vực gia đình và đẩy mạnh việc thông truyền đức tin giữa lòng gia đình.

Trong giờ thảo luận tự do từ 6 đến 7 giờ chiều, có 2 đề nghị được đưa ra: xin Thượng HĐGM gửi một sứ điệp khích lệ và quí mến đối với các gia đình ở Irak, đang bị đe dọa vì cuộc tàn sát do trào lưu Hồi giáo cuồng tín gây ra và phải chạy trốn để không từ bỏ đức tin. Đề nghị này được đa số các nghị phụ bỏ phiếu chấp thuận.
Đề nghị thứ hai là cần suy tư về hàng giáo sĩ có gia đình trong các Giáo Hội Đông phương, họ cũng thường sống những cuộc khủng hoảng gia đình, và có thể đi tới chỗ yêu cầu được ly dị.

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: VietVatican

Người Công giáo và kinh Mân Côi

06:49 |
Tháng mười, tháng Mân côi, lại về với chúng ta. Lòng đạo đức của người Ki-tô hữu lại đặc biệt hướng về Mẹ hiền – Đức Maria – với  tâm tình thảo hiếu của những người con và với niềm tự hào lớn lao vì có một người mẹ tuyệt vời như thế.
Giáo Hội trải qua suốt dòng lịch sử đã dành rất nhiều mỹ từ, nhiều sự tôn kính cho Đức Mẹ vì cảm nhận sâu xa vị trí trổi vượt và vai trò quan trọng của Mẹ trong tương quan với Thiên Chúa và với con người. Nơi lòng tin và đời sống đạo của người tín hữu cũng vậy, hầu hết chúng ta đều dành một chỗ trang trọng cho Đức Mẹ. Nghe lời Mẹ để nguyện kinh Mân côi là một sự đáp lại lời Mẹ khiến người vui lòng, bởi người mẹ nào cũng thế chỉ muốn điều tốt đẹp cho con. Có lẽ Mẹ biết Kinh Mân côi thực sự là một phương thế hữu hiệu giúp cho người thường xuyên nguyện kinh này có thể đón nhận nhiều ân phúc và đặc biệt có thể đạt đến cứu độ.
Điều đầu tiên có thể nói cầu nguyện với kinh Mân côi là lối cầu nguyện của những người đang ở trong tình yêu. Sự lặp lại thường gây nhàm chán. Nhưng kinh nghiệm nói với chúng ta rằng có những điều có thể cứ lặp lại mãi mà không sợ nhàm chán, khi lặp lại điều đó trong sự hiếu thảo và yêu mến, với tâm tình phó thác và cậy trông. Khi con cái hiếu thảo và thương mến cha mẹ, người ta luôn tìm cách để về với cha mẹ. Về, nhiều khi chỉ ngồi ăn bữa cơm, mà có lúc cũng chỉ để thăm hỏi một câu rồi lại đi, … dù sao người ta vẫn thích về. Hai người yêu nhau vẫn luôn thích gặp gỡ, dù chỉ để nhìn nhau thôi, hoặc lặp lại những câu nói yêu thương mà không bao giờ nhàm chán. Cũng thế, khi mời gọi chúng ta cầu nguyện với kinh Mân côi, có lẽ Mẹ muốn con cái của mình phải là những người đang có một tình yêu cháy bỏng, với Chúa và với tha nhân, để lời cầu nguyện không phải là sự lặp lại máy móc vô cảm, nhưng là những lời xuất tự con tim đầy lửa sốt mến.
Cầu nguyện với kinh Mân côi là cầu nguyện dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Có một người bạn chia sẻ : « Tại sao những người bạn Tin Lành rất gắn bó với Kinh Thánh, thuộc Kinh thánh, trong khi người Công giáo xem ra hờ hững và xa với Kinh thánh hơn, dường như người công giáo ít cầu nguyện dựa trên Kinh Thánh ? » Đó là một câu hỏi mở rất hay, nó như một lời mời gọi để chúng ta suy nghĩ về sự lưu tâm lâu nay của chúng ta đối với Lời Chúa. Nhưng ở một góc độ khác, nếu nói người Công giáo không cầu nguyện dựa trên Kinh Thánh lại là một phán xét vội vã. Đi vào nội dung kinh nguyện và những thực hành phụng vụ, ta thấy hầu như tất cả đời sống phụng tự của Giáo Hội, những cử hành phụng vụ bí tích, kinh thần vụ, á bí tích hay những việc đạo đức cá nhân và cộng đồng như đi đàng thánh giá, ngắm thương khó, những giờ canh thức và tĩnh nguyện … đều dựa trên nền tảng của Kinh Thánh, nếu không nói là « đậm đặc » chất Kinh Thánh. Kinh Mân côi là một điển hình, đó là sự kết hợp giữa Kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh cùng với những điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su tại thế, một cuộc đời vốn chất chứa mọi gam màu tối sáng, mọi cung bậc thăng trầm mà một con người có thể phải trải qua – năm sự Vui, năm sự Thương, năm sự Mừng, và mới đây Đức cố Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã thêm vào năm sự Sáng – mà ở đó hình ảnh Đức Mẹ luôn hiện diện với tư cách là một người mẹ, người môn đệ, người cộng sự tận tụy và trung tín của Con Thiên Chúa. Ở đây ta bắt gặp một Đức Maria sống gắn bó mật thiết với Chúa. Nhìn ở một phương diện nào đó, có thể nói, khi dạy chúng ta cầu nguyện với Kinh Mân côi, chính Đức Mẹ đã dạy chúng ta phải sống và cầu nguyện với Kinh Thánh vậy.
Cầu nguyện với kinh Mân côi, ta được mời gọi độ lượng đáp lời Thiên Chúa và kiên định trong sự chọn lựa của mình: lựa chọn đi theo Đức Ki-tô. Nói  cách khác, chính Mẹ mời ta đi với Mẹ hành trình Mẹ đã đi, đó là hành trình theo sát Chúa Giê-su Con của Mẹ, một hành trình tất yếu cho tất cả những ai muốn đi theo Người. Hành trình ấy, Đấng Phục Sinh đã xác định với hai môn đệ trên đường Emmaus : «Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?» (Lc 24,26). Mẹ theo Chúa trên mọi nẻo đường, trong mọi hoàn cảnh. Mẹ bên Chúa trước những hiểm nguy, thử thách. Dù phải chịu nhiều đau khổ và mất mát, dù như thể bị « một lưỡi gươm đâm qua tim », Mẹ vẫn ở đấy, ngay sau Con của mình, âm thầm nhưng vững vàng, kiên định.
Cầu nguyện với Kinh Mân côi, ta cũng được củng cố lòng tin để có thể đứng vững trước những hiểm nguy và không bị ngã gục trước những thử thách, bởi thấy được một kết cục có hậu trong hành trình theo Chúa, khi suy gẫm về cuộc đời Đức Mẹ. Mầu nhiệm thứ năm của «năm sự mừng», Mẹ được Chúa thưởng trên nước thiên đàng. Điều đó trở thành một bằng chứng bảo đảm cho tất cả những người con biết noi gương Mẹ, kiên định trong sự chọn lựa, vững vàng tiến bước trong đời sống đức tin và nhiệt thành dấn thân cho sứ vụ. Phần thưởng chắc chắn đang chờ đợi họ phía cuối của cuộc hành trình.
Lạy Mẹ Maria, cảm tạ Mẹ đã ban cho chúng con kinh Mân côi. Xin cho chúng con luôn trung thành với kinh nguyện đơn sơ nhưng sâu sắc này, để chúng con biết bắt chước Mẹ sống kết hiệp với Chúa Giêsu và nhờ đó chúng con cũng được hưởng phúc như Mẹ. Amen.
JB. Hồ Quang Lâm, CSsR

CHUỖI NGỌC MÂN CÔI

06:07 |
Tháng mười là tháng mân côi
Cha mẹ đã dạy từ hồi còn thơ
Bao năm cũng chẳng phai mờ
Niềm tin ta có là nhờ mẹ cha
Tối về xum họp cả nhà
Lời kinh dâng kính Chúa Cha trên trời
Được làm con Chúa trên đời
Đó là “Ân Sủng” tuyệt vời Chúa ban
Xin cho kiếp sống bình an
Lời cha mẹ dạy bảo ban con là:
 
“SỰ VUI”Thiên Chúa ban ra
Thiên Thần loan báo Đức Bà chịu thai
Bà sẽ sinh Chúa Ngôi Hai
Khiêm nhường Mẹ đã nói bài “xin vâng”
Mẹ đem Con Chúa hiến dâng
Tiên Tri ẵm lấy nói hằng chờ lâu
Sau này bà sẽ âu sầu
Mẹ hằng suy nghĩ kín sâu một mình.
 
“SỰ SÁNG” Thiên Chúa quang minh
Ngài chịu phép rửa Thánh Linh cao vời
Chúa Cha phán xuống từ trời
Con ta sủng ái nghe lời  nơi ta
Phép lạ tiệc cưới Cana
Quyền năng Thiên Chúa ban qua Con Ngài
Nước Trời rao giảng công khai
Ta bo đỉnh núi nơi Ngài Hiển dung
Bí Tích Thánh Thể sau cùng
Để cho Nhân loại hưởng chung Ân Tình.
 
 “SỰ THƯƠNG” Con Chúa hy sinh
Hiến thân chuộc tội một mình vì ai
Mang cây thập tự trên vai
Ba lần ngã qụy mão gai trên đầu
Toàn thân roi đã hằn sâu
Đinh nhọn đóng vào buốt thấu tâm can
Chúa Con cứu chuộc thế gian
Trút hơi thở cuối “Bức màn xé đôi”
Xác Ngài trong mộ trên đồi
Gôn-gô-tha đó tới hồi phục sinh
.
“SỰ MỪNG” Con Chúa quang minh
Giê-su sống lại hiển vinh lên trời
Ma-ri-a trọn cuộc đời
Đồng công cứu chuộc tuyệt vời cao siêu
Mẹ dược Thiên Chúa thương yêu
Đưa lên cõi phúc diễm kiều Thánh Ân
Ngài còn sai Chúa Thánh Thần
Mang bình an đền ân cần trao ban
Tông Đồ còn ở thế gian
Bình an trí tuệ để loan Tin Mừng.
 
Con ơi! chớ có dửng dưng
Lời kinh mẹ dạy”Kình Mừng” ngày thơ
Bóng cha Mẹ đã khuất mờ
Lời kinh vẫn thuộc là nhờ Mẹ Cha
Cầu cho Cha Mẹ nơi xa
Con luôn lần chuỗi “Ngọc Ngà Mân Côi”
 
Trầm Hương Thơ

Hãy đi và làm như vậy (6.10.2014 – Thứ hai Tuần 27 Thường niên)

11:07 |
Lời Chúa: Lc 10, 25-37
25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp. 26 Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào? “27 Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình”.
28 Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. 29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi”?
30 Đức Giê-su đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.
35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?
“37 Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.
Suy niệm:
Trong Tin Mừng Mátthêu và Máccô (Mt 22, 36; Mc 12, 28)
vị luật sĩ đặt câu hỏi về điều răn nào là điều răn lớn nhất.
Còn theo Tin Mừng Luca, vị này lại hỏi Đức Giêsu
về việc phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp (c. 25).
Đức Giêsu nghĩ rằng câu trả lời đã có trong sách Luật, nên Ngài hỏi lại ông.
Ông này đã trích sách Đệ Nhị Luật 6,5 và sách Lêvi 19,18 để trả lời.
Động từ yêu mến diễn tả thái độ đối với Thiên Chúa và người thân cận :
“Hãy yêu mến Thiên Chúa với tất cả trái tim con, với tất cả linh hồn con,
với tất cả sức lực con và với tất cả trí khôn con,
và người thân cận như chính mình” (c. 27).
Đức Giêsu khen ông trả lời đúng và khích lệ ông (c. 28).
Như thế giữa Ngài và vị thầy Do thái giáo đã có sự nhất trí nào đó.
Tình yêu không phải là một đòi hỏi mới của Kitô giáo,
nhưng tình yêu đã là điều cốt yếu của Do thái giáo từ xưa.
Vấn đề là phải yêu Thiên Chúa với tất cả trái tim, linh hồn, sức lực và trí khôn.
Từ tất cả được lặp lại bốn lần để nói lên một đòi hỏi tận căn, trọn vẹn.
Nhưng Đức Giêsu còn phải trả lời cho vị luật sĩ câu hỏi: Ai là người thân cận của tôi ?
Đức Giêsu đã trả lời câu hỏi này bằng một dụ ngôn nổi tiếng,
qua đó ngài đã mở rộng quan niệm truyền thống về người thân cận.
Một người từ Giêrusalem xuống Giêrikhô.
Anh phải vượt qua đoạn đường dài gần 25 cây số.
Đoạn đường này thời bấy giờ có nhiều trộm cướp.
Anh đã bị bọn cướp trấn lột, đánh nhừ tử và đặt nằm đó nửa sống nửa chết.
Anh bị cướp này là ai, chúng ta không rõ.
Chỉ biết anh đang rất cần sự trợ giúp của người khác.
Nhìn vào tình cảnh bi đát của anh, có ai muốn thương giúp anh không?
Có ba người đi qua chỗ anh nằm, một là thầy tư tế, hai là thầy Lêvi,
Cả hai đều có phản ứng giống nhau: thấy và tránh qua bên kia mà đi.
Chúng ta không rõ tại sao họ làm thế.
Có thể vị tư tế sợ mình bị ô nhơ qua việc đụng chạm đến xác chết,
vì sách Lêvi 21, 1-3 cấm không được làm thế, trừ phi là xác bà con gần.
Nhân vật thứ ba đi ngang qua nạn nhân là một người Samari.
Hầu chắc nạn nhân là một người Do Thái,
vì không có chi tiết nào cho thấy anh ấy là dân ngoại cả.
Giữa người Do Thái và người Samari vốn có mối hiềm thù lâu đời.
Người Samari cũng thấy như hai người trước,
nhưng đó không phải là cái nhìn lạnh lùng, vô cảm.
Anh thấy bằng trái tim của mình, chính vì thế anh chạnh lòng thương,
điều mà hai người trước không có.
Mọi sự phải bắt đầu từ trái tim, không có sức thúc đẩy của ti

ĐTC khai mạc Thượng HĐGM khóa đặc biệt về gia đình

10:42 |
Kính thưa quí vị thính giả. Đúng 11 tháng sau khi tài liệu chuẩn bị được công bố, lúc 10 giờ sáng chúa nhật hôm qua, 5-10, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trọng thể để khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa đặc biệt thứ 3 với chủ đề "Những thách đố về việc mục vụ gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng”.
Đồng tế với ĐTC trong thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô có 230 vị, gồm 191 nghị phụ gồm trong đó có 61 Hồng Y, 7 Thượng Phụ và thủ lãnh của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương tự quản, trong đó có 2 vị TGM Trưởng, 115 TGM và GM, phần còn lại là 7 LM nghị phụ, ngoài ra có gần 38 LM chuyên gia và cộng tác viên.

Thánh ý Chúa trong cuộc đời

10:03 |
“Thánh ý Ngài là gia nghiệp con mãi mãi,
vì đó là hoan lạc của lòng con” (Tv 119, 111).

Thánh ý Chúa – con đường hẹp
Để sống thánh ý Chúa mỗi ngày toàn vẹn hơn, ta phải trải qua lắm gian nan trên con đường hẹp. Thiên Chúa dạy dỗ con tim bằng đau khổ và chướng ngại, chứ không bằng những ý niệm và nhận thức suông. Điều này cũng giống như thanh sắt được người thợ rèn trui luyện nhiều lần trong lò lửa, nó phải chịu nung nóng và chịu nhiều nhát búa đập xuống cho tới khi nó trở thành cây dao hay thanh kiếm theo ý muốn của người thợ. Đây là kinh nghiệm đau thương và nóng bỏng từng ngày để sống theo ý Chúa, nhờ đó linh hồn mới hưởng nếm được Ngài như sự thiện hảo duy nhất của đời mình.
Để nắm vững tri thức này và có được sự thanh thoát, đòi ta phải ly thoát mọi sở hữu cá nhân. Vì thế, chỉ nhờ thập giá và những hãm mình liên lỉ, cả sự khổ chế và tước bỏ hằng ngày thì tình yêu tinh tuyền cho thánh ý Chúa mới được thiết lập trong tâm hồn ta. Việc này cứ phải tiếp diễn cho đến khi mọi cái đối với chúng ta như không có, hay có cũng như không, để Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự. Chính Thiên Chúa chiến đấu với mọi thứ cảm tính đặc trưng trong con tim ta, để dẫn ta đến với Ngài bằng sự trút bỏ hoàn toàn những gì mà ta còn cậy dựa vào đó. Trong những gì xảy ra, Chúa thường làm đảo lộn mọi dự tính của ta, thay vì tìm thấy thành công thì ta toàn thấy những khó khăn, lầm lẫn, trống rỗng và dại dột, để từ đó ta được thúc đẩy để nương tựa vào chính Ngài và chỉ cảm thấy hài lòng với Ngài mà thôi. Hạnh phúc thay khi chúng ta hiểu được tính nghiêm khắc đầy yêu thương của Chúa, để giành lấy chính mình ta cho Ngài.
Niềm vui của Chúa.
Chúa vui biết mấy khi thấy ta được tự do thoát khỏi mọi khuynh hướng phàm tục, mọi thúc đẩy và lôi kéo của thế sự, để chỉ còn lại một tâm tình và ý hướng trọn vẹn sống cho riêng Ngài.
Chúa mừng biết bao khi thấy ta phải không ngừng thanh lọc bản thân mình khỏi những ý hướng thấp hèn, khỏi những ham muốn tầm thường, khỏi những cao vọng và hào nhoáng bên ngoài. Khi con tim chết đi đối với mọi sự, và mọi sự đều đã chết đối với nó, thì ta mới thực sự thuộc về Chúa.
Thánh ý Chúa mời gọi ta hãy chắp cánh bay lên vùng trời xanh tươi sáng, đừng bằng lòng với những ngõ ngách tối tăm; hãy biết đói khát những sự trên cao, đừng tìm no lòng với những điều dưới đất; hãy để tâm hồn mình được vươn cao, nới rộng, trải dài, đừng phỉ chí toại nguyền với “nắm tro” tạm bợ. R. Tagore cũng đã diễn đạt tâm tình này như sau:
“Dù chiều xuống dần, ra hiệu cho lời ca bặt tiếng;
Dù bạn bè mi đã ngon giấc trong tổ ấm và mi đã mệt nhoài;
Dù hãi hùng đang bao trùm đêm tối, và bầu trời mây phủ kín;
Song, chim của ta ơi, lắng nghe lời ta nói:
Đừng vội khép cánh ngừng bay chim nhé.
………………………………………………………….
Mi không nuôi hy vọng, không bận lo âu.
Mi không sầu, không oán cũng không than.
Mi không nhà, không hang, không tổ.
Mi chỉ có đôi cánh riêng tư và bầu trời bao la.
Chim của ta ơi, lắng nghe lời ta nói:
đừng vội khép cánh ngừng bay chim nhé”.
Thật vậy, trái đất này không phải là nơi ta tìm sự yên nghỉ, thượng giới trường cửu mới là nơi nghỉ yên. Sự sống của chúng ta không thuộc về đời này, nên cứ phải bay lên mãi cho tới cõi sống vĩnh hằng. Ý Thiên Chúa chính là sự sống đó, đang nẩy mầm và lớn lên trong ta từng ngày, là toàn bộ gia nghiệp của đời ta. Toàn tâm toàn ý để sống thánh ý Chúa làm cho mỗi giây phút trong đời ta trở thành sự toàn hiến cho Thiên Chúa.
Những tác động thần khải
Ngoài việc hết lòng sống theo Thánh ý Chúa trong từng giây phút hiện tại và đón nhận mọi sự cố xảy ra trong đời, thì còn một loại thứ ba là “những tác động thần khải”, mà Chúa muốn mời gọi ta thực hiện như một bổn phận trong những bổn phận. Loại bổn phận thứ ba này xem ra vượt trên mọi luật lệ, hình thức hay qui tắc, đòi một sự dấn thân và hy sinh sâu rộng hơn để Chúa làm nên một điều gì đó trên đời sống cộng đoàn. Thay vì để cho ta có một uy tín và sáng giá do những tiến triển trong đời sống thiêng liêng, thì Chúa lại giữ ta trong sự âm thầm và nhỏ bé tầm thường dưới mắt người khác; thay vì để cho ta được trỗi vượt phẩm chất trong đời sống tâm linh, thì Chúa lại muốn để ta ở trong bóng tối. Ta sẽ tìm được bình an sâu thẳm trong sự hư vô của mình. Nếu muốn hành động một cách khác với ý Chúa, ta sẽ tự lừa dối mình, và tâm hồn sẽ phát sinh những bấn loạn.
Ta dễ dàng bị cám dỗ để làm những việc nổi nang hơn người khác, cân xứng với tài đức của mình, mà quên rằng Chúa muốn đặt ta ở vị trí nào trong từng giai đoạn của cuộc đời. Chiến đấu trong đời sống thiêng liêng cũng giống như chiến lược binh bị nơi sa trường, nếu thủ thế sai cứ điểm và chiếm cứ sai vị trí là chuốc lấy thảm bại. Trong “những bổn phận linh hứng” đòi ta phải biết hành động ở trong tư thế mà Chúa muốn, thì mới đạt tới niềm vui ơn cứu độ cho mình và tha nhân.
Điều trên cho thấy mỗi người chúng ta nên bằng lòng với những bổn phận trong bậc sống và trong ơn gọi theo từng hoàn cảnh của mình, theo sự an bài và quan phòng của Chúa, bởi vì chỉ có Chúa mới thấy một cách toàn bích những hệ quả sâu rộng trong đời sống cộng đoàn cũng như trên cuộc sống của toàn thể nhân loại, trong sự liên đới mật thiết với nhau trong chương trình tình yêu của Ngài, và Ngài đã muốn một cách rất riêng lẽ trong tính cách hiện diện của từng người, để phối hợp nó một cách nhịp nhàng, ăn khớp trong toàn bộ với nhau dưới sự thống nhất và hợp nhất rất linh động của Chúa Thánh Thần.
Ý Chúa nhiệm mầu, nhưng lại giản đơn
Chúng ta đừng quá mong mỏi những hiệu quả bên ngoài mà quên những chuyển động âm thầm bên trong, kẻo điều ta mong không phải là điều Chúa mong. Nơi người khác cũng vậy, không nên xét theo những tiêu chuẩn và những thành quả bên ngoài để lượng định hoặc đánh giá. Việc Chúa làm nơi mỗi người là những điều sâu xa hơn nhiều, trong một tiến trình đang chuyển động theo kế hoạch của Ngài, chứ không chỉ như những gì người ta muốn thấy. Có ai thấy được những trăn trở, thao thức và vươn lên quyết liệt của một tâm hồn đang hết lòng sống cho Chúa, đang khi bên ngoài là những hoàn cảnh bất lợi như bóng tối vây quanh, che chắn đi ánh sáng rất tinh tế mà Chúa đang thắp lên nơi họ. Chỉ có chìm sâu trong cầu nguyện ta mới có được cái nhìn và tâm tình rất tinh tế của Chúa trong đời sống của từng con người mà Chúa đang làm nên.
Nhìn vào cuộc sống của những người thánh thiện, ta cũng thấy rằng, họ cũng chỉ biểu lộ ra bên ngoài những gì rất bình thường như nơi những người khác. Họ chu toàn những bổn phận tôn giáo và bậc sống có vẻ như cùng một cách thức như mọi người, chẳng có gì hấp dẫn hay đặc thù, và mọi thứ hầu như đi theo một tiến trình bình thường. Những gì là độc đáo nơi họ thật khó mà nhận biết, hay đúng hơn, nó tùy thuộc vào ý muốn của Chúa trên cuộc đời họ. Ý muốn đó tạo cho họ một sự làm chủ bản thân trong sự dâng hiến hoàn toàn cho Chúa định liệu. Họ chỉ đơn giản lo chu toàn bổn phận mình như không còn gì tồn tại ngoài Thiên Chúa và điều phải làm trong hiện tại, cũng chẳng đắn đo lo ngại về những hậu quả trước cái nhìn và đánh giá của người khác. Họ dám đón nhận mọi sự mà chẳng đếm xỉa gì đến sự bất lợi cho bản thân hay ý riêng mình, chỉ kiên nhẫn chờ đợi sự chuyển động của thánh ý Chúa trong tâm hồn mình. Nếu Chúa muốn gì khác hơn thì chính ngài sẽ linh hứng cho họ một cách nào đó.
Như một dụng cụ trong tay Ngài
Để sống thánh ý Chúa trong cuộc đời, ta cũng phải giống như tấm vải để vẽ, không cần nghĩ gì hay không cần phải cố gắng tìm hiểu Thiên Chúa muốn vẽ gì trên mình, vì ta tin vào Ngài và muốn phó thác hết cho Ngài, và chỉ chú tâm hoàn toàn vào điều mà Ngài muốn ta làm. Càng biết dấn thân vào những công việc nhỏ bé, tầm thường, âm thầm và kín đáo, thì Thiên Chúa lại càng thêu dệt nên những điều ngoạn mục trong cuộc đời ta. Điều này cũng giống như khúc gỗ đang được đục đẽo, cắt gọt nhỏ lại để dần dần hình thành một tác phẩm nghệ thuật. Không phải vì ta ham thích được như vậy, nhưng vì Chúa muốn như thế. Diễm phúc biết bao khi ta thấy mình đang được tác tạo để trở nên một kỳ công của Thiên Chúa.
Hoạt động của Thiên Chúa luôn mới mẻ cho những ai sống theo thánh ý Ngài. Con đường Ngài dẫn chúng ta đi, không ai lường trước được, và ta cũng chẳng cần tìm biết mình đi đâu. Điều quan trọng là đặt trọn tin tưởng vào Ngài, sẵn sàng phó mình cho Ngài trong mọi đường nẻo, dù tươi sáng hay tối tăm mịt mù. Những hoạt động của Ngài cũng không có giới hạn, với nguồn lực và khả năng không bao giờ cạn. Hôm qua Ngài làm như thế này, hôm nay Ngài làm thế khác. Cũng cùng một công việc được áp dụng cho những thời điểm khác nhau, với những phương cách khác nhau tùy theo hoạt động của Thánh Thần.
Đức Giêsu Kitô luôn là mẫu mực hoàn hảo cho chúng ta trong việc sống theo Thánh Thần. Cuộc sống của Ngài đang tiếp diễn, và điều còn phải hoàn tất thì đang thực hiện nơi mỗi người chúng ta trong từng thời điểm. Mỗi người nhận lấy một phần sự sống thần linh này, nhưng trong mỗi người, Đức Giêsu Kitô đều khác nhau, dù vẫn chỉ là chính ngài. Hãy để cho Thiên Chúa hành động bằng cách làm theo điều Ngài muốn. Đó là Tin Mừng và cũng là toàn thể Kinh Thánh.
Lạy Chúa, sống theo thánh ý Chúa là sống bằng một đức tin tinh tuyền, hay nói ngược lại cũng thế. Khi sống như thế, con có cảm giác mình bị tước mất sự sống bình thường, hay nói đúng hơn một cách nào đó bị chết đi về mặt thể lý cũng như tâm linh.
Nhưng con tin rằng, dưới lớp vỏ sự chết, Chúa đang thực hiện thành công những chương trình của Chúa trong cuộc đời con. Chính vì để cho ý Chúa được thực hiện, để cho đời sống đức tin sống động mà Chúa muốn cho những ai khao khát yêu mến Chúa được nhận chìm vào dòng nước của vô số đau thương, khốn khó, yếu đuối và thất bại.
Dù đau khổ có đôi khi làm con đánh mất cảm thức về sự hiện diện của Chúa, nhưng rồi con cảm thấy như có một chiếc neo vô hình giữ con bám chặc vào Chúa. Chúa vẫn ẩn mình và có những khi chơi trò “Trốn tìm” với con, làm cho tâm hồn con hoang mang, chới với. Nhưng rồi Chúa vẫn có đó ngay trong tâm hồn con, ngay trong chính sự sống của con, cũng như Giacóp đã ngạc nhiên thốt lên: “Quả thật, có Đức Chúa ở nơi này mà tôi không biết” (St 28, 16). Chúa đang sống tận tình cho con mà con đâu có biết; Chúa đang bao bọc con trong trái tim Chúa mà con nào có hay.
Xin cho con biết sống trong cung lòng sâu thẳm vô hình của Chúa, và nhờ sức mạnh ở nơi đó, đời sống con vươn lên, đâm cành, trổ lá, nở hoa và kết trái. Dù chúng vô hình đối với con nhưng lại là niềm vui và thức ăn bổ dưỡng cho người khác.
Xin cho con biết cho đi bóng mát, hoa thơm, trái ngọt cho anh chị em con, mà đừng để ý đến hương vị của mình.
Xin cho con một trái tim rộng mở, để những ai đến với con đều nhận được cùng một nguồn sống sẽ được biểu lộ ra trong sự lớn lên với diện mạo riêng của họ.
Xin cho con trở nên tất cả cho mọi người, nhưng về phần con, sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì xảy đến.
Xin cho con cứ vui lòng với Chúa để ở lại trong nhà tù tối tăm và chật hẹp trong cái kén của con, như con sâu bé nhỏ, cho đến khi nào sức nóng của ân sủng sưởi ấm con và làm cho mọc cánh để bay vào sự sống thần linh, trong yêu thương tuyệt hảo bất tận là chính Chúa.
Xin cho con đừng tìm kiếm gì ngoài Chúa, mà biết tìm kiếm Ngài trong chính Ngài mà thôi. Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên con xin phó thác hoàn cuộc đời con và mọi sự cho Ngài. Vì lạy Chúa, Ngài là gia nghiệp muôn đời và là hạnh phúc tuyệt đối của đời con. Amen.


Lm Thái Nguyên