Niềm vui đời dâng hiến

15:34 |

Sống trên đời mà không có niềm vui, ấy chẳng còn là sống nữa. Có thể nói, những niềm vui là quà tặng và là nguồn nâng đỡ lớn lao mà Tạo Hóa ban cho con người. Niềm vui giúp ta thêm yêu cuộc sống, giúp ta thăng hoa sự hiện hữu của mình, giúp ta tìm thấy ý nghĩa những gì ta đang thụ hưởng. Cuộc đời ta sẽ trở thành hỏa ngục khi vắng đi tiếng cười, khi không có cảm giác hạnh phúc hay không biết mình tồn tại để làm chi.

Bởi thế, như một thúc đẩy của tự nhiên, con người nào cũng có xu hướng tìm đến nơi nào mà họ nghĩ là sẽ mang đến cho họ thật nhiều niềm vui, không chỉ là tiếng cười bên ngoài nhưng còn là khoảng bình an sâu thẳm tận bên trong. Ta chẳng hiểu “vui” là cái gì, nhưng ta biết rằng đó là điều mà ta đang tìm kiếm.

Từ bỏ tất cả để sống trong bốn bức tường của dòng tu có thể nào cũng là một niềm vui đối với một số người nào đó không? Sao lại phải che đi mái tóc óng mượt, là nét duyên dáng của người con gái, bằng lúp vải đậm màu? Sao lại phải khoác lên người chiếc áo vừa đơn sơ, vừa gợi buồn như thế? Những phút vui vầy nhảy nhót trên vũ trường không thú vị hơn cái thinh lặng đến lạnh người nơi nhà nguyện sao? Một cái ôm và nụ hôn nồng cháy bên người yêu mỗi dịp lễ không hấp dẫn hơn tràng chuỗi và cây thập giá kia à? … Người ta có thể nhìn về đời tu như một cái gì đó thánh thiêng và lạ kỳ không tả nỗi. Nhưng chắc là đã không ít lần ta tự hỏi: một đời sống bỏ mình, giản dị và âm thầm như thế liệu có niềm vui nào không?

Niềm vui đầu tiên của họ là những khoảnh khắc một mình ngồi với Chúa, lúc buồn cũng như lúc vui. Họ ngồi đấy một mình! Có khi có điều gì đó để nói, có lúc chẳng có gì để thưa, nhưng điều đó không quan trọng, chỉ cần một sự hiện diện thôi. Nhìn ngọn đèn chầu lấp lóe, họ thấy phận mình của nhỏ bé và chập chờn như bóng mây, nhưng lại được diễm phúc trở nên người thân cận với Chúa. Trong sự thinh lặng thâm sâu ấy, họ thấy mình được bình an đến vô chừng, một kiểu bình an vượt xa những ngôn từ hoa mĩ nhất. Họ như được chiếm hữu cả linh hồn để vui niềm vui khi không có gì cả và không còn là gì nữa. Mặc cho đời bon chen để kiếm bạc tiền và tôn thờ nó, họ lại cảm thấy một sự tự do vô cùng lớn khi tẩy sạch khỏi tâm trí và cõi lòng mình những bợn nhơ của thế tục nhân gian. Khoảnh khắc ngồi bên Chúa trở nên châu báu của họ, là viên ngọc quý giá mà họ đã vô tình tìm thấy nơi “thửa ruộng”, rồi bán hết tất cả những gì mình có để mua cho kỳ được. Ở với Chúa, họ như được trút bỏ những mệt mỏi, những hiểu lầm, những ganh tị, những chán nản và thậm chí cả nỗi cô đơn của kiếp người tại thế. Họ quỳ gối xuống, hướng lòng lên cao, lặng ngắm cây thập giá trên kia và cảm nghiệm về một tình yêu vô lượng vô biên vô bờ bến. Một sự ấm áp lạ kỳ bỗng lan tỏa khắp cơ thể và làm con tim họ như muốn vỡ òa lên niềm hạnh phúc vì cảm thấy mình được yêu, bất chấp họ tội lỗi, họ bất xứng, đã không biết bao nhiêu lần bội phản lại ân tình cao quý kia. Ở lại với Đấng mà họ yêu, đó là niềm vui ngọt ngào nhất khiến họ đánh đổi tất cả mà chẳng thấy thiệt thòi gì.

Là một con người của Chúa thì cũng đồng thời trở thành một con người của tha nhân. Họ trở thành người mà bất cứ ai cũng có thể tìm đến để trao gửi tâm tình, để tìm kiếm sự nâng đỡ và lời chỉ dẫn khôn ngoan. Người ta tin tưởng họ vì người ta nhìn thấy nơi họ một tâm hồn thật thanh thoát và sáng trong, không vướng bận bất cứ một hạt bụi hư danh nào. Người tu sĩ tự trói buộc mình với những lời khấn chính là để được tự do với của cải vật chất, với mọi mối tương quan và mọi ý nguyện sở thích riêng của mình. Nhờ đó, họ trở thành điểm tựa cho ai cần đến, là niềm an vui cho những kẻ buồn sầu. Họ kiên nhẫn ngồi lắng nghe từng tâm tư của người khác, họ thấu hiểu từng nỗi lòng mà người ta đang mang, mà không sợ phiền nhiễu hay mất thì giờ cho công việc riêng tư của mình. Họ khóc với người khóc để giọt nước mắt kia bớt đi vị chát đắng, họ cười với người cười để niềm hạnh phúc ấy được đậm nét yêu thương. Họ trải cõi lòng mình ra thật rộng để lan tỏa đến cho mọi người tình yêu nồng ấm mà họ đã lãnh nhận được từ trời cao. Họ trở thành nơi mà những ai không thể tìm đâu được lối thoát sẽ chạy đến để xin được chỉ đường. Không là của ai để trở thành người của tất cả, ấy cũng là một niềm vui trong đời sống hiến dâng.

Như cánh chim tung tăng bay lượn trên bầu trời tự do, người tu sĩ cũng nhẹ nhàng và thanh thoát như thế. Họ không phải là những người đi du lịch, tìm chỗ nghỉ dưỡng cho bản thân, nhưng là những con người luôn sẵn sàng ra đi để vun trồng Tin Mừng cứu rỗi. Đố ai có thể đếm được bao miền đất mà họ đã đi qua! Ngay cả khi giam mình trong dòng kín, tâm hồn người tu sĩ vẫn có thể vượt qua cánh cổng đan viện, vươn đến những mảnh đất nghèo tận trời xa. Một cảm giác không ai và không có gì có thể cầm giữ chân mình thật tuyệt dịu. Họ đến những nơi không ai muốn đến, họ gặp những người chẳng ai dám gặp, để nói những điều mà họ xác tín là chân lý cứu độ nhân gian. Đi đến đâu, họ nhóm lên ngọn lửa yêu thương, để mọi người được sống an vui trong an bình và thịnh vượng. Khi mọi thứ đã ổn định, họ âm thầm cất bước ra đi khi mặt trời còn đang say giấc, để tiếp tục tung bay đến miền đất mới, với cùng một nhiệt huyết và hăng say, mà chẳng cần ai ghi ơn hay tạc tượng kính nhớ. Họ cứ đi và đi mãi, như Giêsu, thần tượng của đời họ, cho đến khi đôi bàn chân bị ghim chặt vào cây thánh giá mới thôi. Mệt mỏi đấy, vất vả đấy… nhưng với họ, đó lại là niềm vui!

Thật lạ kỳ: sự thinh lặng, sự từ bỏ và sự ứng trực ra đi là thảm họa với nhiều người, nhưng lại trở thành niềm vui của người sống đời dâng hiến. Đối với các tu sĩ, thinh lặng không phải là tự kỷ nhưng là để gặp gỡ và chuyện trò; từ bỏ không phải là mất mát, nhưng là để có và sở hữu nhiều hơn; ứng trực ra đi không phải bấp bênh nhưng là để dựng xây và nối kết. Bằng chính lối sống của mình, người tu sĩ làm thức tỉnh thế giới khỏi giấc ngủ mê lầm của công danh, tiền tài và ngẫu tượng. Họ trở thành dấu chứng chắc chắn cho sự hiện hữu của Thiên Đàng, nơi mà người ta chỉ chăm chú hướng về Chúa và không còn một sự hăm hở nào về những phù hoa. Thế đấy, niềm vui của đời dâng hiến là được trở nên chiếc thang nối liền trời và đất, hệt như cây thập giá năm xưa đứng hiên ngang cho thân mình Đấng Cứu Tinh tựa vào mà chiến đấu với sự ác. Đời dâng hiến đích thực là một cây thập giá vì nó đòi phải hy sinh rất nhiều. Nhưng Chúa cần cây thập giá ấy để treo mình lên cao mà ban phát ơn cứu độ cho muôn dân nước. Ước gì mỗi người tu sĩ thực sự trở thành cây thập giá của Chúa, luôn nằm đằng sau Chúa, dính liền với Chúa, trở thành một khí cụ trong tay Chúa, và không bao giờ là một cản trở cho công cuộc cứu thế của Chúa. Niềm vui của đời dâng hiến chỉ đơn giản là thế thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Tìm Thiên Chúa giữa rất nhiều tiếng gọi

06:18 |
Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều tiếng gọi. Hiếm có giây phút nào trong đời sống mà chúng ta không có ai hay không có cái gì đang gọi tới, ngay cả trong giấc ngủ, những giấc mơ và những cơn ác mộng cũng bắt chúng ta phải chú ý. Và mỗi một tiếng gọi đều có nhịp điệu và thông điệp riêng của nó. Một số giọng mời gọi chúng ta bước vào, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp nếu chúng ta làm cái này hay cái nọ, mua sản phẩm này hay ý tưởng kia; một số giọng đe dọa chúng ta. Một số giọng dẫn dắt chúng ta đến gần với thù hận, cay đắng và tức giận, có những giọng khác đòi hỏi chúng ta cố gắng hướng tới thương yêu, lòng biết ơn và tha thứ. Một số tiếng gọi nói với chúng ta rằng chúng đùa cợt và vui nhộn, chứ không phải là chuyện nghiêm túc, lại có những tiếng gọi khác tuyên bố hùng hồn rằng mình là cấp bách và quan trọng, là tiếng gọi của chân lý không thể kỳ kèo, tiếng gọi của Thiên Chúa.
Trong tất cả những tiếng đó, đâu là tiếng gọi của Thiên Chúa? Làm thế nào chúng ta nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa giữa tất cả những giọng đó và khi đang theo những tiếng gọi đó?
Không dễ trả lời. Như Thánh Kinh nói cho chúng ta biết, Thiên Chúa là tác giả của tất cả những gì tốt đẹp, cho dù chúng có mang nhãn tôn giáo hay không. Vì thế, tiếng gọi của Thiên Chúa nằm trong mọi sự vật và sự việc không bộc lộ một liên hệ rõ rệt với đức tin và tôn giáo, cũng giống như tiếng gọi của Thiên Chúa không nằm trong tất cả những sự vật và sự việc giả dạng tôn giáo. Nhưng làm sao chúng ta phân biệt được?
Chúa Giê-su cho chúng ta một hình ảnh ẩn dụ tuyệt vời để suy ngẫm, nhưng nó chính xác chỉ là một phép ẩn dụ: Người nói với chúng ta rằng Người là “Mục Tử Tốt Lành,” các con chiên của Người sẽ nhận ra tiếng gọi của Người giữa tất cả những tiếng gọi khác. Ban đêm, để bảo vệ và để các con cừu có bầu bạn, các mục tử thường đưa tất cả các đàn cừu của mình vào một bãi quây trên đồng. Sáng hôm sau, họ tách các đàn ra bằng cách cất tiếng gọi các con cừu của đàn mình. Mỗi mục tử  luyện cho những con cừu của mình quen với giọng của mình và chỉ có giọng đó mà thôi. Mục tử thường đi cách xa bãi quây rồi gọi các con cừu, thường là bằng tên riêng của chúng, và rồi chúng sẽ đi theo anh ta. Những con cừu của anh đã quá quen với giọng của anh nên chúng sẽ không đi theo tiếng gọi của người chăn cừu khác, kể cả khi người đó cố lừa chúng (những người chăn cừu thường làm như vậy để ăn cắp cừu của người khác) bằng cách giả giọng chủ. Giống như một đứa bé con, đến một lúc sẽ không thấy thích thú với giọng âu yếm của người trông trẻ nữa mà chỉ muốn và cần giọng của mẹ mình, mỗi con cừu đều nhận ra một cách mật thiết tiếng gọi đang bảo vệ chúng và sẽ không đi theo tiếng gọi khác.
Chúng ta cũng như vậy: Giữa tất cả những tiếng gọi đang bao quanh và dẫn dụ, làm sao chúng ta phân biệt được nhịp điệu riêng biệt tiếng gọi của Thiên Chúa? Đâu là tiếng gọi của Người Mục Tử Tốt Lành?
Không hề có câu trả lời dễ dàng và đôi khi điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là tin vào linh tính của mình về điều gì đúng điều gì sai. Nhưng có nhiều nguyên tắc từ Chúa Giê-su, Thánh Kinh, và từ những mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống Ki-tô của chúng ta vốn có thể giúp ích cho chúng ta. Dưới đây là một loạt các nguyên tắc giúp chúng ta phân biệt được tiếng gọi của Thiên Chúa giữa vô vàn tiếng đang gọi chúng ta. Đâu là nhịp điệu riêng biệt trong tiếng gọi của Người Mục Tử Tốt Lành?
- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những lời thì thầm và giọng khẽ, cũng như trong sấm chớp và bão giông.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra ở đâu có vui vẻ, sức khỏe, màu sắc, hài hước và ngay cả ở đâu có chết chóc, đau khổ, nghèo khổ, tinh thần xuống thấp.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì mời gọi chúng ta tới những gì cao hơn, đặt riêng chúng ta ra để dành cho những công việc, mời gọi chúng ta đến với thần thánh, cũng như trong những gì mời gọi chúng ta đến với lòng khiêm tốn, ngấm sâu trong lòng  nhân đạo, và trong những gì không chịu phỉ báng lòng nhân đạo.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì có vẻ “xa lạ”, như là kẻ khác, “kẻ xa lạ” trong đời sống chúng ta, cũng như trong tiếng gọi chúng ta về chốn quê nhà thân thuộc.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa là tiếng gọi thách thức nhất và kéo căng chúng ta nhất, cũng như đó là tiếng gọi duy nhất mà rốt cùng xoa dịu và an ủi chúng ta.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa bước vào đời chúng ta như là quyền năng lớn lao nhất trong mọi quyền năng, cũng như nó vĩnh viễn nằm trong những gì mong manh dễ bị thương tổn, giống như một đứa bé yếu đuối trên cọng rơm.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy theo cách được ưu ái ở nơi người nghèo, cũng như nó báo hiệu cho chúng ta qua giọng của các nghệ sĩ và người trí thức.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta sống vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi, cũng như nó gợi cảm hứng về nỗi sợ hãi thiêng liêng.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy trong quà tặng của Chúa Thánh thần, cũng như nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ chối gạt những nỗi phức tạp của thế giới này và của cuộc sống chính mình.
- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy ở bất cứ nơi nào có niềm sung sướng đích thực và lòng biết ơn đích thực, cũng như nó đòi hỏi chúng ta gạt bỏ cái tôi của mình, hy sinh vì nghĩa lớn và thong dong coi mọi chuyện trên trần gian này là tương đối.
Dường như, tiếng gọi của Thiên Chúa vĩnh viễn tìm thấy trong nghịch lý.
J.B. Thái Hòa dịch


Đi tu là ơn gọi hiến dâng

07:50 |
…đời dâng hiến không phải luôn là chuỗi ngày hạnh phúc, dù Thiên Chúa có gọi chọn họ. Có nhiều biến cố, thử thách khiến họ hoang mang trước tiếng Chúa gọi thuở nào. Trong đời tu họ thấy Chúa im lặng, thậm chí trong những giờ cầu nguyện riêng tư. Nhiều khi họ bối rối không biết mình còn ơn gọi không?…
Nhiều người ngạc nhiên về đất nước Việt Nam tuy dưới chế độ cộng sản lại có nhiều ơn gọi hiến dâng. Để giải thích về thực tế ấy, có lẽ cần nhiều thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên ơn gọi dâng hiến luôn là một món quà đến từ Thiên Chúa.
Chính Thiên Chúa gọi và những bạn trẻ đáp trả lại tiếng gọi đó. Bước khởi đầu của việc trả lời Thiên Chúa là họ tìm hiểu một dòng tu; nếu hợp, họ bước vào dòng để tập sống đời dâng hiến. Tiến trình ấy người ta hiểu nôm na là đi tu. Nhìn bề ngoài chúng ta thấy người tu sĩ đang quảng đại dâng hiến đời mình trong một dòng tu. Sau này họ được mời gọi để phụng sự Chúa trong những sứ mạng cụ thể.
Tuy nhiên, biểu hiện bên ngoài của đời tu là cả một ơn gọi nhiệm màu trải dài trong cuộc sống của người tu sĩ. Nói là “ơn” vì đó là ơn huệ, là món quà nhưng không Thiên Chúa dành cho họ. Người thực sự thì thầm gọi họ trong những biến cố rất riêng của từng người. Tiếng gọi ấy mỗi ngày một rõ nét hơn, khiến họ cần tìm hiểu và làm theo tiếng ấy thì được hạnh phúc bình an. Hẳn là tôi không có quyền đòi hỏi Thiên Chúa phải gọi chọn tôi trong đời dâng hiến. Người có tự do chọn gọi chỉ những ai Người muốn. Còn nhớ biết bao người tốt quanh Thầy Giêsu, tuy nhiên, Người chỉ gọi chọn 12 tông đồ, để ở với Người và được Người dạy dỗ và sai đi. Vì là món quà, nên nhiều bạn trẻ trân quý ơn gọi Chúa trao và tập tành bước theo tiếng gọi thiêng liêng ấy.
Người đời sẽ không hiểu hết tại sao một người tu sĩ lại bỏ mọi sự để theo một tiếng gọi vô hình nào đó. Thay vì nên nghĩa vợ chồng với ai đó, họ chọn Giêsu để bước theo, chỉ một mình Người mà thôi. Thay vì xây đắp cuộc sống riêng tư, tìm kiếm tiền tài, người tu sĩ chỉ theo những chỉ dẫn của Thầy Giêsu. Họ hạnh phúc với ba lời khấn hứa: Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Thay vì vun đắp cho gia đình riêng của mình, người tu sĩ dấn thân đến với mọi người; họ cố gắng giúp càng nhiều người yêu mến Thiên Chúa càng tốt. Hơn nữa, người tu sĩ còn phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Giêsu (Mt 16, 24-28). Đó là những sứ mạng cao cả mà nhiều người lấy làm ngạc nhiên. Ngược lại, tu sĩ không ngạc nhiên lắm vì những điều họ chọn làm, vì họ biết trong tâm hồn họ luôn có một tiếng gọi dấn thân, sống vì những điều cao cả hơn. Nhờ đó họ hy vọng tìm được hạnh phúc đời này và đời sau.
Cũng phải thừa nhận rằng nhiều bạn trẻ muốn đi tu và nhất quyết phải đi tu cho bằng được. Tạm bỏ qua những lý do bạn ấy muốn đi tu, chúng ta thấy một khi Thiên Chúa không gọi, dù có muốn, bạn ấy cũng không thể hạnh phúc trong đời tu. Cũng không thiếu bạn trẻ trước giờ chẳng hề nghĩ đến chuyện đi tu, chợt một biến cố đến, họ thấy dường như Thiên Chúa lớn tiếng gọi mình bước vào một đời sống thuộc trọn về Chúa. Tôi biết vài người đã chuẩn bị kết hôn, nhưng chính lúc đó, Thiên Chúa gọi hai người bước và con đường dâng hiến! Chính họ cũng không hiểu hết những gì họ quyết định! Chỉ biết họ thực sự hạnh phúc khi trở nên những tu sĩ thay vì nên nghĩa vợ chồng với nhau. Thế mới biết ơn gọi thật huyền nhiệm biết bao!
Tuy nhiên đời dâng hiến không phải luôn là chuỗi ngày hạnh phúc, dù Thiên Chúa có gọi chọn họ. Có nhiều biến cố, thử thách khiến họ hoang mang trước tiếng Chúa gọi thuở nào. Trong đời tu họ thấy Chúa im lặng, thậm chí trong những giờ cầu nguyện riêng tư. Nhiều khi họ bối rối không biết mình còn ơn gọi không? Đó có thể là những thử thách thường đến với những người theo Chúa.
Tuy vậy, họ luôn trung thành và biết “năn nỉ” Thiên Chúa khơi gợi tiếng gọi mạnh hơn trong tâm hồn họ. Hơn hết, họ nỗ lực tìm thánh ý Thiên Chúa và sống thân thiết hơn với Người. Tình trạng nội tâm ấy chúng ta có thể bắt gặp nơi một nữ tu trải qua nhiều năm đêm tối của tâm hồn (gần 50 năm). Sơ cảm thấy Thiên Chúa im lặng, xa vắng đến độ sơ nghĩ Thiên Chúa “nghỉ chơi” với mình rồi. Đó là trường hợp của sơ thánh Têrêsa thành Calcutta. Sơ nói: “Tận đáy lòng… chẳng có gì cả ngoài sự trống rỗng và tối tăm… Nếu có Chúa – xin tha tội cho con. Khi tôi cố hướng tâm trí mình đến Thiên đàng thì sự trống rỗng phủ lấp và những ý tưởng ấy dội ngược về như những mũi dao sắc cắt nát linh hồn tôi…”. Dù sầu khổ thiêng liêng nhưng cả thế giới ngưỡng mộ trước những thành quả tông đồ và con người thánh thiện của sơ. Động lực ấy sơ lấy từ đâu nếu không phải từ Đấng gọi sơ?
Một thực tế đau lòng là nhiều nước trên thế giới các bạn trẻ bịt tai trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Họ chạy theo lối sống hưởng thụ và thực dụng hơn là lắng nghe tiếng Chúa để rẽ vào con đường dâng hiến. Họ chối từ món quà của Thiên Chúa. Ước gì bạn trẻ Công giáo Việt Nam tập lắng nghe tiếng Thiên Chúa thì thầm. Một khi biết nói chuyện và lắng nghe tiếng Chúa, chúng ta có khả năng đáp lời, dù đi tu hay lập gia đình. Nếu Chúa muốn mình đi tu, hãy lên đường để “viết lên bao trang sử diệu kỳ” (x. Tông huấn đời sống thánh hiến, số 90). Được như thế, hy vọng những ai được Thiên Chúa đang thì thầm gọi tên bước vào đời dâng hiến, họ hạnh phúc đón nhận món quà với một tình yêu dâng hiến lơn lao.
“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc10,1-9). Nguyện xin Thiên Chúa luôn gọi thật nhiều người trẻ đến với Người, ở với Người và được Người sai đi!
Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Tại sao lại đi tu?

16:37 |
Bạn thân mến,
Là tu sĩ, tôi thường được nhiều người hỏi: “Tại sao bạn lại đi tu”?
Với tôi hoặc bất cứ người tu sĩ nào, hẳn đây là câu hỏi ý nghĩa và quan trọng. Ý nghĩa vì nó giúp tu sĩ định hướng được cuộc đời mình khuôn theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Và quan trọng vì khi tìm thấy động lực ơn gọi và đáp trả tiếng gọi của Chúa, người tu sĩ nhận được niềm vui bình an để tiến bước. Tuy nhiên trước câu hỏi này, người tu sĩ không thể trả lời rốt ráo một lần. Đó là cả một hành trình đời tu, để trước Thiên Chúa, người tu sĩ được mời gọi làm mới lại ơn gọi tu trì của mình. Bởi đó, mỗi lần nghe người khác hỏi mình, hoặc chính mình chất vấn bản thân: “Tại sao lại đi tu?”, hy vọng đó là cơ hội để người tu sĩ gần hơn với Thiên Chúa.
Nhớ lại thời Đức Giêsu, Ngài kêu gọi mười hai tông đồ để đi theo Ngài. Một cách nào đó, họ là những tu sĩ đầu tiên và trực tiếp được Đức Giêsu gọi chọn để ở với Ngài. Trong hành trình ấy, Tin Mừng thuật lại nhiều câu chuyện cho thấy các ông không phải lúc nào cũng muốn theo Thầy Giêsu một cách trọn vẹn. Hơn nữa, không ít lần các ông đi theo Thầy chỉ để được tiếng tăm, quyền lực, được lợi lộc trần gian. Do đó đứng trước lời tiên báo rằng Thầy sẽ phải chịu chết, chịu bách hại, họ phản đối hoặc làm ngơ. Chỉ sau khi Đức Giêsu phục sinh, các ông mới theo Giêsu một cách trọn vẹn, dám sống chết để loan báo Tin mừng, làm chứng cho Thầy.
Tu sĩ thời nào cũng luôn là người được Thiên Chúa mời gọi để bước theo Thầy Giêsu. Trên con đường ấy người tu sĩ được mời gọi từ bỏ mọi thứ để làm vinh danh Chúa hơn. Đây đó nhiều người tưởng các tu sĩ đi tu để tìm quyền cao chức trọng, an nhàn sung túc. Đúng là những thứ đó luôn cám dỗ, bủa vây người tu sĩ, khiến họ vất vả chiến đấu để loại bỏ từng ngày. Người tu sĩ mong ước mỗi ngày vươn đến lòng mến nồng nàn với Đấng mà họ khấn hứa bước theo. Điều ấy có nghĩa là người tu sĩ không tìm lợi lộc cho riêng mình, nhưng hoàn toàn để Thiên Chúa được cả sáng, ý Cha được trọn lành trong sứ mạng và cuộc đời người tu sĩ.
Ngoài câu hỏi trên, bạn bè tôi thường hỏi thêm “Đi tu có sướng không, có tự do không”? Cảm ơn bạn đã hỏi, đã giúp tôi nhìn lại ơn gọi để tiếp tục bước tới với Thầy Giêsu. Dĩ nhiên hiếm người tu sĩ nào một sớm một chiều mà hoàn toàn biết Thiên Chúa muốn mình bước vào con đường dâng hiến. Đó là một hành trình đời tu. Mỗi ngày đứng trước câu hỏi ấy, mình thấy đời tu vẫn còn hấp dẫn và cho mình hạnh phúc vì có Thầy Giêsu, thế là mình tự do bước tiếp!
Dĩ nhiên đi tu không sung sướng hoặc an nhàn theo kiểu thế gian như người ta thường nghĩ. Cũng như bao người muốn hạnh phúc và thành công, người tu sĩ cũng phải tập chiến đấu với những cám dỗ thế gian. Họ được mời gọi để học hành nghiêm túc, cầu nguyện liên lỷ, huấn luyện lâu dài và từ bỏ mỗi ngày. Rồi trong cánh đồng sứ mạng, họ vui buồn với Thầy Giêsu trong những công việc phục vụ hằng ngày. Họ ước mong mang về cho Thiên Chúa càng nhiều linh hồn càng tốt. Dẫu đời tu có vất vả khó khăn, nhưng người tu sĩ không cho phép mình bỏ buộc. Hơn nữa, họ được ban nhiều bình an trong tâm hồn, vì họ có được tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Đó là chìa khóa để giúp họ sống vui phục vụ.
Bạn biết đấy, mỗi ơn gọi đều có những nét đẹp riêng. Ơn gọi gia đình cho người ta hạnh phúc bên mái ấm gia đình. Từng thành viên được mời gọi để sống theo ý Chúa cụ thể trong gia đình mình. Đời tu cung thế. Người tu sĩ thấy mình hạnh phúc để chu toàn những điều kiện khi bước theo Thầy Giêsu. Điều kiện ấy là từ bỏ mọi sự, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy. Do đó họ vui sống ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Vậy bạn hỏi “Tại sao người ta lại đi tu?”, chắn hẳn tại vì họ muốn sống theo những lời mời gọi này của Thầy Giêsu dành cho họ. Ngài không gọi mọi người phải trở nên người tu sĩ, nhưng Ngài chỉ chọn riêng những ai Ngài muốn. Đó là ơn gọi tu trì. Còn người khác, Ngài muốn họ hạnh phúc bước vào một ơn gọi khác.
Đứng trước câu hỏi trên, chắc hẳn mỗi người tu sĩ đều có câu trả lời cho riêng mình. Ước mong mỗi ngày câu trả lời cũng chính là cuộc sống triển nở của người tu sĩ, gần hơn với Thầy Chí Thánh. Được như thế, cuộc sống tu trì không sầu buồn như lắm người tưởng, không chán ngán như nhiều người nghĩ. Ngược lại, đó là cuộc sống của hạnh phúc bình an trong tâm hồn, của niềm vui khi bước theo Thầy Giêsu trong muôn nẻo đường sứ mạng.
Chia sẻ vài điều với bạn, hy vọng bạn cũng cầu nguyện thêm cho các tu sĩ. Chúng ta cầu chúc cho họ từng ngày họ nhận được niềm vui của Thầy Giêsu. Hy vọng họ không biến đời tu thành một nghề nghiệp đơn thuần để tìm vinh hoa quyền thế. Ngược lại, ước sao mỗi người sống đời thành hiến tự do đáp lại lời mời gọi từ bỏ mọi sự của Thầy Giêsu trong niềm vui và bình an. Được như thế chúng ta tin rằng đi tu là để sống vui với Giêsu và thuộc trọn về Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.
Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Ơn gọi của Tara Clemens, một luật sư trẻ, trở thành nữ tu dòng kín Đaminh

18:05 |

Ơn gọi của Tara Clemens, một luật sư trẻ, trở thành nữ tu dòng kín Đaminh Trong một thế giới mà ơn gọi tu trì ngày càng giảm sút, đời sống tu trì, đối với nhiều người, có vẻ buồn chán, khác người, cực khổ, đi ngược với mong ước sống tự do, hưởng thụ của thế giới hiện đại, thì vẫn luôn có những ơn gọi thật đẹp, là dấu chứng của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, là bằng chứng của sự tin yêu, đáp lại tiếng Chúa mời gọi, và cũng là chứng tá của những tấm lòng quảng đại, hy sinh, dưới mọi hình thức, để vun trồng ơn gọi tu trì.
Ơn gọi của Tara Clemens, hiện nay là sơ Maria Đaminh Nhập thể, cũng là một ơn gọi “khác người” nhưng thật đẹp; từ một luật sư trẻ, Clemens đã nghe theo tiếng Chúa gọi, tận hiến cho Ngài trong đời tu, và đặc biệt hơn nữa, cô đã chọn đời sống đan tu, chuyên lo việc chiêm niệm cầu nguyện.
Tara Clemens là một luật sư ở thành phố Anchorage, bang Alaska, Hoa kỳ. Clemens nguyên là một tín hữu Tin Lành, và chỉ vài tháng trước khi tốt nghiệp trường luật, cô đã gia nhập Giáo Hội Công Giáo.
Việc trở thành tín hữu Công Giáo xảy ra khá là bất ngờ với Clemens. Chỉ vài tháng trước khi tốt nghiệp đại học luật Lewis và Clark ở thành phố Portland, bang Oregon, Clemens đi cùng một người bạn, tham dự Thánh Lễ thứ sáu Mùa Chay, và ngày hôm đó. là môt bước ngoặt trong cuộc đời của cô: Clemens đã quyết định trở lại Công giáo.
Ba tháng sau đó, dù phải làm việc toàn thời gian, mỗi chiều tối, Clemens theo học về Công Giáo. Một ít tháng sau, vào dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống năm 2007, Clemens hoàn toàn tin vào chân lý của Công Giáo. Clemens đã được gia nhập Giáo Hội Công Giáo vào dịp lễ Vọng Phục sinh năm 2008. Và vài tháng sau đó, dù chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ trở thành nữ tu, cô luật sư trẻ Clemens đã đến thăm đan viện Thánh Thể. Clemens đã sống hai năm rưỡi tại đan viện, trước tiên là thỉnh sinh, và sau đó vào nhà tập. Ngày 28 tháng 5 vừa qua (năm 2017), Clemens được tuyên khấn lần đầu tại đan viện Thánh Thể của các nữ tu Đaminh ở Menlo Park, bang California, Hoa kỳ, với tên dòng là Maria Đaminh Nhập thể.
Ngày sơ Maria Đaminh được đội chiếc lúp đen trên đầu thay cho chiếc lúp trắng khi vào nhà Tập cách đây hơn một năm, vị linh mục chủ tế đã nói: “Hãy nhận lấy tấm lúp thánh này, qua đó con có thể được nhận ra như ngôi nhà cầu nguyện dành cho Chúa và đền thờ cầu nguyện cho mọi người”. Sơ Maria Đaminh ý thức được rằng trung tâm của đời sống chiêm niệm của các nữ đan sĩ Đaminh là tình yêu Chúa. Dù là một đan sĩ sống giam mình trong đan viện, không bao giờ đi ra ngoài, sơ vẫn có thể ôm trọn thế giới với tình yêu và cầu nguyện cho thế giới.
Được hỏi về việc trở thành một đan sĩ, sơ Maria Đaminh xác định: “Khi Thiên Chúa gọi chúng ta, Ngài rất kiên định”. Điều này được chứng thực trong hành trình ơn gọi của sơ Maria Đaminh.
Khi luật sư Clemens có ý định đi tu, nhưng vì số tiền hơn 100 ngàn đô la cô mượn để đi học quá lớn, và cô chưa thể thanh toán để vào nhà dòng, cô hầu như thất vọng trước khó khăn thách đố này. Chính khi đó, hội Laboure đã giúp cho Clemens giải quyết vấn đề nợ sinh viên để có thể đi tu. Laboure là một hội có trụ sở ở Minnesota, giúp đỡ cho những người có ơn gọi tu trì trả nợ, điều cản trở họ gia nhập đời tu. Hội Laboure mở một lớp khoảng từ 10 đến 25 người, những người tin là mình có ơn gọi, và tổ chức chiến dịch quyên góp giúp họ. Clemens tham dự chương trình này 2 năm.
Vào cuối khóa, cô tưởng rằng phải đợi thêm một năm nữa vì không nhận được đủ tiền quyên góp để trả nợ học. Nhưng rồi đã có hai vị ân nhân đóng góp số tiền lớn và Clemens đã được giúp trả nợ tiền học.
Như John Flanagan, giám đốc điều hành hội Laboure đã nói: “Tara Clemens đã không thực hiện hành trình ơn gọi một mình, nhưng nhiều người khắp nơi biết là họ đã làm điều gì đó để giúp Tara Clemens trở thành nữ tu Maria Đaminh”. Và ông nhận xét rằng: “Cô ta đã gập phải những khó khăn trên hành trình theo đuổi ơn gôi, nhưng cô đã đón nhận chúng với niềm tin tưởng lớn lao vào Thiên Chúa” (CNS 13/06/2017).
Hồng Thủy

23 tuổi, đẹp và nổi loạn, cô đi từ các phòng tập cử tạ qua Dòng Kín

10:20 |
Cô Lucie Frachebourg có một quá trình trở lại rất đẹp sau tuổi thanh xuân xáo trộn, cô đi từ phòng tập cử tạ này đến phòng tập cử tạ khác.
Lucie Frachebourg, đẹp, tươi tắn, 23 tuổi, cô đã có một quyết định quan trọng cho đời mình: đi tu Dòng Xitô, dâng trọn đời mình cho Chúa trong khi chẳng có gì tiên đoán là cô sẽ chọn con đường này. Cô vào nhà Dòng được vài tuần vào ngày chúa nhật Lòng thương xót Chúa. Cô chọn Dòng Xitô, tu viện Xitô được  Robert de Molesme xây dựng năm 1098. Khổ hạnh, bình an nội tâm, dốc lòng đi tìm Chúa là các cấu trúc ở đây. Các chứng từ trở lại luôn mạnh và nhói đau, nhất là khi người trở lại trở về từ một nơi… rất xa. Một ơn gọi đi ra khỏi các con đường mòn.
Trong một hình ảnh được công bố gần đây về chân dung người công giáo Thụy Sĩ, Lucie Frachebourg cho thấy tuổi trẻ nổi loạn của cô ở các phòng tập, đi từ các quá độ để tìm một khuôn khổ. Cô tuyên bố với ký giả Pierre Pistoletti: “Cô gái lê lết ở các phòng tập, cô trở lại thì hơi sáo một chút…” Cô gái trẻ không bao giờ cảm thấy thoải mái với đạo công giáo, cô thấy nó quá hạn hẹp. Hành hương, Ngày Thế giới Trẻ: cô ít tham dự. Vậy mà…
Được Chúa ban ơn
Trong một chuyến đi Ai Len với cô em, cô đã về lại với cuộc sống. Gắn bó với thiên nhiên và các nhà thờ đổ nát đã là nguồn cứu chuộc cho cô gái trẻ này. Bốn tháng sau cô dự Tuần Thánh ở tu viện Xitô nổi tiếng ở Narbonne. Cô ở đó Tam Nhật Thánh để chiêm niệm, để lắng nghe. Giữa lòng mầu nhiệm này, cô được ơn Chúa ban. Lucie trải qua một kinh nghiệm rất mạnh mà cô không tả được, có một cái gì đã xảy ra trong lòng cô. Cô hiểu được Nước Trời là một “kho tàng”, mà với kho tàng này thì xứng công để bỏ tất cả (Mt 13, 44). “Trong tu viện, tôi cảm thấy chính ở đây là nơi tôi phải ở, chứ không đâu khác”.
“Nhưng một con đường khác đã được vạch ra”
Lucie từ bỏ thú vui ăn ngon, uống bia vàng óng ánh, từ bỏ người yêu (người đó cũng muốn đi tu) để hiến đời mình cho Chúa Kitô, để chiêm niệm và để cầu nguyện. Nhưng điều khó khăn nhất của cô, là từ bỏ công việc thủ công. Sau khi học xong ở trường làm đồ gốm và kiếng, cô phải bỏ xưởng đồ gốm thủ công Ecce Terra. Một chọn lựa khó khăn đối với cô, trước khi cô nhận ra mình phải hoàn toàn hiến dâng, phải thuận theo ý Chúa.
Trên con đường của sự thật
Từ vài tuần này, cô sống trong tu viện Xitô, hoàn toàn buông bỏ, cô đi trên con đường của sự thật. Các lối đi vô hình, các tu sĩ Dòng Xitô là một cộng đoàn chiêm niệm, tu kín, dốc mình đi tìm Chúa. Không ai thấy họ nhưng họ lại cần thiết cho thế giới. Lucie chọn Dòng Xitô “là chọn ánh sáng”. Thánh Bernard de Clairvaux, người đã có công đáng kể trong việc phát triển Dòng ở thế kỷ 12, cũng đã có chọn lựa này vì kiến trúc của các tu viện. Chúng ta hy vọng cô tìm được ánh sáng này, ánh sáng của Chúa Kitô Cứu Chuộc.
Sau đây là một số hình chọn lọc của cô Lucie Frachebourg năm 2011 ở tu viện Fontfroide. Chính thời gian đó là lúc lần đầu tiên cô tiếp xúc với đời sống thiêng liêng kitô giáo, nhiếp ảnh gia Jean Lemoine đã ghi lại những hình ảnh này.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Nguồn: Phanxico.vn

Tại sao Chúa lại chọn con?

15:49 |
Mỗi người có một cảm nhận riêng về ơn gọi của mình, ơn gọi này chúng ta nhận được từ Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch của mọi sự, cho mọi người. Ở đây tôi chỉ bàn đến ơn gọi dấn thân theo Chúa cách đặc biệt trong đời tu (đời sống dâng hiến) mà thôi. Dẫu biết rõ con người bạn chẳng có tài gì đặc biệt, chẳng có khiếu gì trong lãnh vực hùng biện, cũng như các lãnh vực khác liên quan đến sứ vụ sau này thế mà Chúa đã mời gọi bạn theo Ngài. Ngài cũng không cưỡng ép cũng như Ngài chẳng bắt buộc bạn phải dấn thân nhưng Ngài đang chờ đợi nơi bạn sự đáp trả. Bạn có thể nói "không". Vì có quá nhiều lí do để biện hộ cho câu trả lời đó: Có thể là thời gian chưa chín muồi, hoặc có thể là chưa thích hợp, và thậm chí có thể là Chúa đã chọn nhầm người để thi hành sứ vụ đặc biệt này. Và có lẽ bạn đang hỏi Chúa: tại sao Chúa lại chọn con?

Tại sao không? Chẳng lẽ bạn không có một tài năng nào được Chúa bạn tặng hay sao? Hay là bạn có quá nhiều tài năng nên nếu như theo Chúa thì tài năng của mình bị giới hạn? Hoặc là chẳng lẽ bạn biết được bạn có thể dâng hiến những gì sao? Bạn có bao giờ nghĩ rằng, nếu Chúa đã khước từ bạn thì liệu có thể Ngài còn mời gọi bạn dấn thân theo Ngài không? Thiên Chúa có lí do của Ngài khi mời gọi bạn. Có thể chương trình của Chúa với bạn đến nay chưa thực sự rõ ràng nhưng tôi chắc chắn với bạn một điều là chính Ngài đã khơi lên trong lòng bạn con đường này, và bạn cũng đã bước đi trên con đường đó. Các tông đồ xưa theo Chúa vì lí do gì? Chắc hẳn bạn cũng biết?! Các ngài cũng rất tầm thường, rất con người trong những giai đoạn đầu theo Chúa. Nhưng dầu sao đi nữa thì các ngài chỉ biết rằng là, mình được "gọi" và với tâm tình đơn sơ, lòng nhiệt thành các ngài đã đáp lại lời mời gọi ấy. Các ngài đã đi trọn con đường của mình theo thánh ý Chúa, tuy là con đường đó có rất nhiều chông gai, nhiều trở ngại nhiều lúc tưởng chừng như các ngài đã bị những khó khăn đánh gục nhưng với ơn Chúa các ngài đã vượt qua tất cả để về đích. Cũng vậy bạn đã cố gắng thế nào? Bạn đã sử dụng ơn Chúa ban ra sao? Bạn có dùng nó để phục vụ cho tha nhân hay là bạn đã dùng nó với ý riêng mình? Có lẽ bạn đã dùng ơn Chúa chưa theo như ý Chúa muốn khi Ngài ban những ơn đó cho bạn. Có lẽ Chúa đang cần nơi bạn một sự phó thác hoàn toàn trong sự tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Lòng tín thác đó nó như một cơn gió thoảng làm cho lòng bạn nhẹ nhàng hơn. Và cơn gió đó bạn biết nó có, nhưng bạn không thể nhìn thấy nó, mà bạn chỉ có thể cảm nhận, và bạn sẽ cảm nhận được nếu như bạn ngưng cuộc sống ồn ào của bạn lại một vài giây, và bạn cố gắng tập trung chú ý một chút, thì bạn sẽ biết được ý Chúa muốn bạn lúc này phải làm gì.

Giả như bạn khước từ lời mời gọi của Chúa thì sao? Theo tôi thì cũng chẳng vấn đề gì. Có thể biết đâu trước đó là chỉ là một cuộc trắc nghiệm. Biết đâu Ngài chỉ muốn bạn sống thử đời sống dấn thân xem bạn có thể chấp nhận được thử thách của Người không? Và cũng có thể Chúa biết điều đó là cần thiết cho cuộc sống của bạn hay nói cách khác thì đó là điều tốt cho cuộc sống sau này của bạn. Giả như Ngài muốn thử xem bạn có hiểu và sử dụng các ơn Chúa Thánh Thần cách hiệu quả không nhất là ơn sức mạnh thì một quyết định như thế phần nào nó cũng nói lên được nơi bạn là đã phải có can đảm, xác tín, ơn thánh và đặc biệt là cầu nguyện rồi. Nếu đã là như vậy thì không có gì để nói, và bạn cũng không có gì phải sợ là mình sẽ phải hối tiếc.

Có lẽ sự dấn thân này không có gì để đảm bảo cho cuộc sống của bạn?! Vậy, có phải bạn đang cần có sự đảm bảo nào đó cho sự dấn thân của mình? Nếu trong một thế giới hoàn hảo thì việc bạn đòi hỏi một đảm bảo nào đó cho một sự dấn thân nào đó của bạn thì đó là điều chính đáng, không có gì để nói. Nhưng đây thực tế thì không phải thế, nó chỉ là một thế giới đầy dẫy những bất trắc. Nên việc đòi có một đảm bảo cho sự dấn thân của mình thì thật là không may vì nó không phải là một thế giới toàn hảo. Và có lẽ là vì vậy mà Chúa muốn bạn dấn thân cho những gì là tốt đẹp nhất theo như sự cảm nhận của bạn khi đã có sự cầu nguyện để tham khảo ý của Ngài một cách kỹ lưỡng rồi. Nếu như bạn thực sự đã làm như vậy một cách nghiêm túc thì bạn không có gì phải lo lắng. Tuy vậy nghĩ kỹ lại thì bạn có thực sự muốn nói "không" với Đấng đã gọi bạn và vì bạn mà Đấng ấy đã hiến đi mạng sống của mình không? Người vẫn đợi chờ và hy vọng bạn sẽ nghe theo lời mời gọi của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn bạn. Người vẫn hy vọng tình yêu của Ngài dành cho bạn sẽ thúc bách bạn để bạn biết chia sẻ tình yêu đó cho mọi người chung quanh và nhất là Ngài hy vọng bạn không phải hối tiếc về sự trả lời của bạn.

Nhưng dù thế nào đi nữa thì lời mời gọi ấy cũng vẫn xoáy vào tâm hồn bạn. Có thể là bạn có nhiều lí do để biện minh cho lựa chọn của mình nhưng bạn quá biết là mình đang làm gì và sử dụng ơn Chúa ban cho mình thế nào. Nhưng có lẽ bạn không biết được bạn đã cố gắng hay không. Điều này thì bạn không thể biết được, tôi dám chắc điều đó. Tất cả đều dựa trên niềm tin của ta vào Chúa. Ngài sẽ giúp bạn, sẽ ban cho bạn đủ sức mạnh để bạn đương đầu với nghịch cảnh. Hãy tin rằng Ngài sẽ ban cho bạn những ơn thánh cần thiết vào những thời điểm cần thiết vì Ngài đã nói "ơn Ta đủ cho con" và Ngài không bao giờ thử thách quá sức chịu đựng của bạn.

Bruno Vinh



Ơn gọi

16:05 |
Nói đến ơn gọi, ai trong chúng ta cũng nghĩ đến những người được kêu gọi để trở thành linh mục, giám mục hay những người nam nữ tu sĩ trong những bộ áo dòng thánh thiện. Quả thực ơn gọi là tiếng gọi của Thiên Chúa, là ơn của Thiên Chúa gọi một ai đó nhưng không chỉ là trở thành một người trong đời sống tu trì, nhưng hơn thế là để trao cho họ một sứ mạng, một ơn gọi cho một sứ vụ từ Trời.
Thánh Kinh cho ta biết về những ơn gọi cao cả: từ Abraham được gọi để trở thành tổ phụ của một dân tộc, đến Môsê – đứa trẻ dòng dõi Lêvi được gọi để trở thành người giải phóng dân tộc Do Thái. Từ Samuel được gọi để trở thành ngôn sứ và thủ lãnh đến David – đứa trẻ chăn chiên được gọi để trở thành vua của một dân tộc. Từ Giona được gọi để trở thành ngôn sứ trong sự chối từ và giận dỗi, đến Maria – người phụ nữ được chọn gọi để trở thành mẹ của Thiên Chúa. Tất cả những ơn gọi ấy làm nên một lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa tác động trong dòng lịch sử nhân loại. Nhưng thiết tưởng ơn gọi không chỉ là để trao những sứ vụ, nhưng ơn gọi nền tảng của con người phải là ơn gọi làm người, một ơn gọi cội nguồn của mọi ơn gọi khác. Bởi Thiên Chúa chỉ gọi một người thi hành sứ vụ khi họ đã là một con người.
Cuộc đời con người tự nó đã là một huyền nhiệm, huyền nhiệm vì con người được tạo dựng trong ý định của Thiên Chúa: “chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” [1]. Như thế, nơi sâu thẳm thân phận con người đã có một huyền nhiệm và con người không tồn tại do chính ý định của mình. Câu truyện thời đệ nhị thế chiến của một văn hào Pháp kể cho ta về kinh nghiệm của chính ông khi bị bắt và nhốt tại trại tập trung của Đức Quốc Xã. Mọi người bị nhốt trong một căn phòng chật chội, để giết thời gian, mọi người trong phòng mới nghĩ đến cách mỗi người tưởng tượng xem mình đã có mặt trên đời này như thế nào. Có những câu chuyện được kể ra nhưng đại khái mỗi người đều kể như nhau về cuộc gặp gỡ định mệnh của cha mẹ, sau đó hai người lấy nhau và sinh ra mình. Nhưng ông tự hỏi: chẳng lẽ cuộc đời của tôi với biết bao niềm vui nỗi buồn lại bắt nguồn bởi một ánh mắt nhìn của một người con gái? Chẳng lẽ cuộc đời đầy những thăng trầm và những biến cố của tôi lại khởi đi từ hành vi tình dục của hai người nam nữ hay sao?
Quả thực, con người không chỉ đơn thuần là vật chất nhưng là một huyền nhiệm và khởi đi từ huyền nhiệm của tình yêu của người với người. Hơn thế nữa, con người còn được khởi đi từ chính ý định của thần linh là Thiên Chúa của mình, chính trong nhãn giới đó mà con người tự nó là một huyền nhiệm và ơn gọi làm người tự nó đã là một ơn gọi cao cả. Nhưng làm sao để chúng ta sống ơn gọi làm người của chúng ta hay chúng ta cứ buông xuôi phó mặc cho dòng thời gian và sự đẩy đưa của cuộc đời?
Tâm thức của người Việt Nam có câu: “không thành công thì cũng thành nhân”, nhưng thiết tưởng không phải như vậy, vì chúng ta trước hết phải thành nhân trước đã, rồi thành công hay không sẽ được xét đến sau, nói cách khác, nếu chúng ta thành công mà không thành nhân mà lại trở thành một con thú nào đó thì thật là vô vọng và nguy hiểm. Như vậy, trước tiên chúng ta cần sống cho thành nhân trước đã, bởi chưng mỗi người khi sinh ra đã là người trong phương diện hình thể với chân tay, đầu cổ, con tim và trí tuệ… và cho dẫu họ có thiếu hụt một vài cơ phận thì họ vẫn mang trong mình dáng dấp con người và một bản thể người. Thế nhưng là người chưa chắc đã làm người. Bởi làm người đòi chúng ta phải sống cho xứng với nhân phẩm một con người, làm người đã khó nhưng để trở thành người hay một mức độ trưởng thành nhân bản (gốc người) lại còn khó hơn nữa. Tu đức và đạo đức bình dân gọi các nhân đức công bằng, tiết độ, khôn ngoan, dũng cảm là những nhân đức trụ trong các nhân đức nhân bản của con người. Khi con người sống trọn vẹn bốn nhân đức này, chúng ta mới có thể trở thành nhân cách tốt đẹp nhất. Hai nhân đức đầu tiên công bằng và khôn ngoan làm cho con người có thể làm người, hai nhân đức sau khôn ngoan và tiết độ làm cho phẩm giá của con người ấy có giá trị hơn.
Liền sau ơn gọi làm người, mỗi người công giáo còn mang trong mình ơn gọi để trở thành một Kitô hữu. Chúng ta nói ơn gọi vì đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa ban cho mà chúng ta không thể nào tự mình có được hay do nỗ lực bản thân mà có. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa và nó có tính chất năng động và linh hoạt. Ơn gọi Kitô hữu chính là việc tin vào Thiên Chúa được mạc khải qua Đức Kitô, ơn gọi Kitô hữu là việc tin vào Đức Kitô chính là Thiên Chúa đã làm người, chịu nạn, chịu chết và đã sống lại, ơn gọi Kitô còn là việc sống những điều Thiên Chúa dạy trong đời sống của mình. Như thế, khi con người nhận được ơn gọi làm người để cùng sống với con người thì ơn gọi Kitô hữu mời gọi chúng ta sống cùng Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Chính trong ơn gọi ấy con người Kitô hữu được lãnh nhận những chức vụ với Thiên Chúa và với con người. Ơn gọi Kitô cũng là một ơn gọi nền tảng cho con người và có một chiều kích phổ quát. Là nền tảng vì nó là bắt nguồn của những ơn gọi khác, như thánh Augustin nói: “cho anh em tôi là giám mục, với anh em tôi là Kitô hữu”. Ơn gọi trở thành Kitô hữu cũng nhắc nhớ chúng ta phải lắng nghe lời của Thiên Chúa nói với mình. Nhưng chúng ta tìm kiếm lời Chúa ở đâu trong cuộc sống bộn bề của ngày hôm nay? Lời Thiên Chúa vẫn nói với con người trong Thánh Kinh, Thánh Kinh không phải là cuốn sách chết được viết cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng Thánh Kinh là lời sống động của Thiên Chúa, vì chưng phụng vụ lời Chúa mỗi ngày cho ta được một đoạn Thánh Kinh giống nhau nhưng mỗi người chúng ta lắng nghe lời Chúa nói với mình cách hiện sinh và hiện tại. Thiên Chúa nói với tôi không phải là trong quá khứ nhưng là ngay trong lúc này: “đừng xét đoán để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán”, Ngài cũng nói với tôi trong hiện tại: “anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” và Ngài vẫn thúc đẩy tôi hành xử với mọi người những điều tốt đẹp theo khuôn vàng thước ngọc: “Điều gì anh em muốn người khác làm cho mình, anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”. Như vậy, lời của Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta vào thời điểm hiện tại, vào lúc này của cuộc sống để đánh thức và kêu gọi chúng ta hoán cải. Lời Thiên Chúa còn được phát ra ngay trong đáy lòng của mỗi người qua tiếng nói của lương tâm. Ai cũng có một lương tâm và đó là tiếng nói của Thiên Chúa đang thúc đẩy ta làm lành và lánh dữ. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói đó trong chính mình và mau mắn thi hành. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta có dám lắng nghe và thi hành theo theo tiếng của Thiên Chúa nói với mình hay không. Khi ngôn sứ Elia đến và nói với vua Akháp: “Ngài hãy xin Đức Chúa một dấu và Ngài sẽ ban cho”, nhưng vua Akháp trả lời rằng: “Tôi là ai mà dám thử thách Đức Chúa”, ở đây không phải vua không dám thử thách Đức Chúa cho bằng ngài không muốn lắng nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa, vì khi nghe được tiếng nói ấy ngài và mỗi người chúng ta bị lời ấy chất vấn, và vì chính mình mà phải chối từ không muốn thi hành mà làm theo ý riêng của mình và không muốn hoán cải. Sống ơn gọi Kitô hữu chính là việc chúng ta sống đức tin và cử hành đức tin Kitô qua đời sống cầu nguyện và phụng tự của mình. Ơn gọi Kitô hữu liên kết chúng ta với Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau, ơn gọi Kitô hữu đồng thời đưa ta vào trong gia đình Giáo hội là chính thân thể của Đức Kitô, ơn gọi ấy còn mời gọi ta sống với Chúa và sống cho nhau trong tình yêu thiện hảo mà Thiên Chúa đã gieo vào đáy lòng mỗi người chúng ta.
Khi đến một lứa tuổi nào đó, chúng ta bắt đầu cảm nhận được một tiếng gọi để chọn lựa một bậc sống và lối sống. Kinh Thánh Tân ước cho ta một trình thuật về ơn gọi của bốn môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, các ngài vẫn sống cuộc sống bình dị cho đến một ngày Đức Giêsu đến và gọi: “các anh hãy theo Ta”. Khi nghe thấy tiếng gọi ấy, các môn đệ đã lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Chúng ta ngày hôm nay chẳng có mấy ai được Thiên Chúa hiện đến và gọi “hãy theo Ta” cách nhãn tiền như vậy, chúng ta càng không được gọi theo cách của các môn đệ qua sự tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa. Thế nhưng ngày hôm nay, tiếng gọi của Thiên Chúa đã và đang được gieo vào trong lòng mỗi người chúng ta trong đời sống hằng ngày. Cũng như các môn đệ đầu tiên, sau khi đã nghe Gioan Tẩy giả loan báo “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” và các ông đã đi theo Đức Giêsu để được ở cùng Ngài ngày hôm đó; sau ngày hôm đó các ngài lại trở về với đời sống thường ngày của chiếc thuyền và cái lưới, họ cũng cầu mong thời của Đấng Thiên sai và sống với tâm tình ấy, nơi con người Giêsu, Ngài đã để lại cho các ông một cảm tình đặc biệt để rồi từ cảm tình, sự tín nhiệm ấy mỗi ngày lại lớn lên và đến khi chín muồi Đức Giêsu đến và gọi: “hãy theo Ta” và các ông lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Ơn gọi của chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng khởi đi từ những trò chuyện, những tiếp xúc với ai đó để có một sự tín nhiệm nơi họ, để rung động, để yêu thương, để gặp gỡ và đến với ơn gọi hôn nhân của mình. Chúng ta cũng khởi đi từ những cảm nghiệm, những tâm tình với thế giới và con người, khởi đi từ cầu nguyện để đến với ơn gọi tận hiến và tu trì. Thiên Chúa vẫn chọn và gọi qua đời sống rất thường nhật để rồi chúng ta cảm nghiệm trong cuộc sống và một lúc nào đó chính Thiên Chúa qua một trung gian, Ngài thể hiện tiếng gọi của mình và mời gọi chúng ta vào bậc sống với và sống cho người khác. Ta sống trong ơn gọi hôn nhân nhờ tiếng gọi của Thiên Chúa đưa ta đến với một ai đó để yêu thương, để bổ khuyết và xây đắp gia đình, Thiên Chúa gọi ta đến với ơn gọi tu trì qua lòng nhiệt thành tông đồ, qua tình yêu dâng hiến trong đời sống phục vụ Thiên Chúa qua tha nhân. Điều quan trọng là ta có biết nhận ra tiếng Thiên Chúa muốn ta sống thế nào. Các môn đệ đã lập tức đáp trả tiếng gọi bằng việc theo Đức Kitô, nhưng sau đó ta lại thấy Phêrô lại lập tức chối Chúa đến ba lần, Giuda cũng lập tức bán Chúa với giá của một tên nô lệ, Toma cũng lập tức nghi ngờ về sự phục sinh của thầy mình.
Nếu như các tông đồ là những người có kinh nghiệm trực tiếp ở với Đức Giêsu mà còn có những thời gian của chán nản, vô tín thì huống chi chúng ta làm sao có thể sống trọn vẹn ơn gọi của mình được. Sống ơn gọi chính là việc từng ngày chúng ta phải tiếp tục chọn lựa, vì không phải chọn lựa một lần là cuộc đời của chúng ta sẽ bình ổn như vậy, cuộc đời sẽ có những thăng trầm và biến động khiến ta phải đặt lại ơn gọi của mình. Con người luôn hiện sinh trong cuộc đời của họ, cũng vậy, chúng ta sẽ một ngày nào đó bị phai nhạt tình yêu của mình trong ơn gọi cho dẫu là ơn gọi tận hiến hay hôn nhân. Tình yêu vợ chồng sẽ có ngày phai nhạt và tình yêu tận hiến với sứ vụ và Thiên Chúa sẽ mai một với thời gian. Vì thế, điều cần thiết là mỗi ngày chúng ta cần làm mới lại tình yêu của mình với Thiên Chúa hay với người bạn đời, để qua việc làm mới ấy, mỗi ngày chúng ta lại sống lại tình yêu và cảm giác ban đầu của việc chọn lựa.
Ơn gọi con người không chỉ dừng lại trong việc chọn bậc sống hôn nhân hay tu trì, nhưng mỗi người đều có ơn chung một ơn gọi nên thánh: “Các ngươi hãy nên thánh vì ta là Đấng Thánh”[2]. Chính Thiên Chúa đã muốn con người sống thánh thiện giống như Ngài là Đấng thánh. Đức Giêsu cũng truyền dạy con người thời Tân ước: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” [3]. Chỉ Thiên Chúa là Đấng Thánh và chúng ta bắt chước Ngài trong ơn gọi này. Sự thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi con người đó chính là việc con người biết lưu giữ và tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. Hình ảnh Thiên Chúa chính là việc con người tỏ lộ mối hiệp thông Ba Ngôi trong đời sống cộng đoàn của mình, điều này có nghĩa mỗi người chúng ta sống tinh thần hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta cần củng cố đời sống cầu nguyện của mình qua việc tham dự thánh lễ và cử hành các bí tích, qua việc cầu nguyện riêng tư và với cộng đoàn nhằm thiết lập mối tương quan cá vị (riêng tư) của mình với Thiên Chúa như một người thân, một người bạn và là Thiên Chúa của mình. Nhưng chúng ta không chỉ sống với Thiên Chúa mà còn sống với con người, vì thế: “ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình đó là kẻ nói dối” [4].
Đời sống cầu nguyện phải được thăng hoa trong chính cuộc sống hằng ngày bằng cử chỉ thân tình và mối hiệp thông với mọi người chung quanh. Thánh nhân phải là người sống cùng thế giới và thăng tiến đời sống tâm linh của mình nhờ việc cộng tác phát triển cộng đồng sinh mệnh mình đang sống. Không có thánh nhân nào không có một quá khứ, không có tội nhân nào lại không có một tương lai. Chúng ta ý thức thân phận dòn mỏng của con người chúng ta dễ sa ngã chước những cám dỗ của cuộc sống, nhưng không vì thế mà chúng ta tuyệt vọng. Nhưng chúng ta, những con người theo Chúa cần sám hối mỗi ngày và quyết tâm sửa đổi bản thân. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi căn bản mà Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người, nhờ đó con người mỗi ngày ước muốn hoàn thiện mình và chọn bậc sống nào phù hợp với mình hầu đạt đến cùng đích của mình là chính Thiên Chúa. Con người khát khao được trở nên giống Thiên Chúa, vì thế nên thánh hay sống thánh thiện chính là con đường tốt nhất để thỏa mãn ước mơ của con người.
Mỗi con người đều mang trong mình những ơn lành của Thiên Chúa, chúng ta sử dụng những ơn lành đó nhằm thăng tiến con người mình trong đời sống Giáo hội và xã hội. Hơn thế nữa, mỗi ngày Thiên Chúa vẫn gửi đến con người những tiếng gọi để chọn từng người vào sứ vụ khác nhau: có người được chọn gọi để trở thành linh mục, giám mục; có người được gọi để trở thành những tu sĩ tận hiến cho Thiên Chúa trong đời sống thánh thiện phục vụ người những người nghèo khó, bệnh tật, những người cô đơn kém may mắn; có người được gọi để sống giữa đời với chồng với vợ và con cái, hầu qua gia đình họ trở nên thánh thiện và giúp nhau nên thánh. Mỗi ơn gọi là một sứ mạng khác nhau đồng thời Thiên Chúa cũng ban những ân sủng cùng với tiếng gọi của Ngài. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe và nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa để đáp trả, để vâng nghe và thi hành sứ vụ mà Thiên Chúa trao phó cho mình. Nhưng nền tảng của mọi ơn gọi là ơn gọi làm người, bởi đó con người cần sống ơn gọi nền tảng ấy trong đời sống mình, hầu tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa và bản tính con người tốt lành được Thiên Chúa tạo dựng nơi mình. Ơn gọi nên thánh được Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người như một ơn gọi căn bản nhất, hầu nhờ việc đáp trả tiếng gọi ấy, con người được trở nên giống Thiên Chúa của mình trong sự thánh thiện và tốt lành.
Mục Đồng Nguyễn
———————-
[1] St 1,26
[2]  Lv 11,45
[3]  Mt 5,48
[4]  1Ga 4,20

Đường con theo Chúa

07:22 |
Hai người bạn vô tình gặp nhau tại trường thực tập. Họ tíu ta tíu tít hỏi nhau:
– Ô, Loan à! Bạn khỏe không? Nay bạn ở đâu rồi?
– Tớ vẫn khỏe, cám ơn bạn. Hiện tại tớ đang đi tìm hiểu ơn gọi. Còn bạn?
– À, tớ ở bên Long Thạnh Mỹ. Thế bạn đi tu lâu chưa, chừng nào thì khấn?
– Tớ mới đi, còn lâu mới khấn.
– Gần chỗ tớ ở, có một chị mà tớ quen lúc tớ còn học cấp 3, giờ chị ấy thành bà sơ rồi.
– Ừm. Tùy dòng thôi Hằng ạ.
– Mừng quá à ! Mình gặp lại nhau. Chúc Loan thành công trong ơn gọi nhé
Cả hai cùng ngồi lại trong giờ nghỉ trưa ôn lại những chuyện xưa cùng nhau vui đùa.
Vâng đôi khi tư tưởng của chúng ta đi tu là được khấn sớm là niềm hạnh phúc, được thuộc về Chúa được mọi người yêu mến và không vướng mắc điều gì là mới thực sự hợp ơn gọi.Vì quan điểm như vậy, ngày nay nhiều bạn trẻ rất để ý và quan tâm đến thời gian để khấn.
Đi tu là đi theo Chúa suốt cuộc đời. Chúa không đắn đo, tính toán thời gian. Ngài mong ước tấm lòng, trái tim chúng ta. Tất cả những ai đã và đang bước theo Chúa thì là người được Chúa yêu thương, đã thuộc về Ngài, dù chúng ta đang ở giai đoạn và hoàn cảnh nào. Thân phận chúng ta yếu đuối, dễ vấp ngã và khó đón nhận những điều trái ý chúng ta. Chúng ta luôn mong muốn con đường mình đi phải thẳng tiến, thành công và không được dừng lại. Còn khi gặp những hố sâu, ghồ ghề đau khổ thì chúng ta chán nản than trách và muốn buông xuôi tất cả. Nhiều lúc chúng ta biết rõ thân xác và tâm hồn chúng ta đang bị đau, bị bệnh cần phải chữa trị, nhưng chúng ta vẫn muốn xông pha đi lên. Chúng ta sợ mất ước mơ, sợ bị đau, bị nhục,…
Chữ “sợ” đã bao trùm cả tâm hồn cõi lòng chúng ta. Nó dẫn chúng ta đi trên con đường đầy nghi vấn và lo lắng.
Nếu chúng ta để mình rơi vào sự ích kỷ của bản thân thì khi gặp một hòn đá giữa đường, chúng ta sẽ hoang mang, loay hoay. Chúng ta sẽ không biết làm thế nào. Nếu muốn dẹp nó, chúng ta phải dừng lại vứt nó đi, còn không thì để mặc nó mà cứ bước đi. Sự giằng co ấy cứ diễn ra trong lòng chúng ta ngày này qua ngày khác. Lúc ấy, phúc cho chúng ta biết tìm đến Chúa. Chính Ngài sẽ giải phóng chúng ta có một lối đi tốt đẹp.
Vâng lối đi của Chúa bao giờ khởi đầu cũng là đau khổ, và rất khó bước đi. Nhưng khi bước đi Ngài sẽ vỗ về an ủi. Và đích điểm chúng ta đạt được là được ở bên Chúa.
Chúng ta đừng sợ khi phải dừng chân nghỉ ở bậc thang nào. Bởi vì Chúa biết điều gì tốt cho chúng ta. Ngài sợ mất chúng ta nên Ngài muốn cho chúng ta có cơ hội nhìn thấy Tình Yêu và sứ mạng của chúng ta rõ hơn.
Nói như vậy, không phải những ai thẳng đường bước đi sẽ mất tình yêu Chúa. Thật sự Ngài thấy họ đủ sức bước tiếp và Ngài cũng tiếp tục dìu dắt họ đi. Nhưng nếu họ không ngưng bám vào Chúa thì họ cũng sẽ xa rời Chúa cách nào đó.
Hành trình theo Chúa là một chặng đường dài và luôn luôn không ngừng tập luyện cùng với sự cố gắng gắn kết trong tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ là huấn luyện viên đào tạo chúng ta. Ngài biết rõ khả năng từng người, dù chúng ta có chậm trễ hay dừng bước ở giai đoạn nào thì đó là chuyện của thế gian. Còn đối với Thiên Chúa, chúng ta vẫn được Ngài tuyển chọn, yêu thương, miễn sao chúng ta vẫn khao khát tìm kiếm Ngài. Chúa rất vui với những ai biết khiêm nhường đơn sơ, vui vẻ đón nhận sự bất toàn của bản thân. Vì lúc ấy Người đến được gần họ.
Thánh Phêrô một con người bị Chúa chỉ trích la mắng nhiều lần. Ông còn chối thầy ba lần. Vậy mà ông vẫn là người được Chúa tín nhiệm nhất. Vì ông vẫn hằng khao khát đến với Chúa và ông vẫn luôn làm lại từ đầu. Vâng, điều quan trọng là chúng ta phải khao khát tìm Chúa không ngừng, lắng nghe và đáp trả tiếng Chúa mỗi ngày. “Tình yêu lấp đầy khoảng trống”. Chúng ta hãy năng gặp Chúa khi tâm hồn bị tổn thương để được Chúa xoa dịu cơn đau và đừng sợ đi theo Ngài.
Thời gian chẳng là gì khi con khao khát tình yêu Chúa.
Đau khổ là chỉ khi trái tim con biết yêu.         
Tình yêu vững mạnh làm cho con thuộc về Chúa.
Anna Cỏ may

Một người đã từng khinh miệt những người đi lễ nhà thờ – bây giờ trở thành linh mục

06:25 |
Mặc dù vào lứa tuổi thanh thiếu niên, Juan Jose Martinez đã mang trong lòng mối thù hận chống lại Giáo Hội, nhưng hôm nay Juan Jose Martinez đã trở thành một linh mục và nói rằng mình đã khám phá ra “Thiên Chúa thật sự hiện hữu và muốn trở thành một linh mục của Chúa.”
Hiện nay cha Juan Jose đang phục vụ tại Giáo Phận Almeira, Tân Ban Nha, nhớ lại rằng “Vào những buổi sáng Chúa Nhật tôi thường đứng ở hành lang trên lầu nhà mình và nhổ nước miếng xuống những người đi lễ. Tôi nói với họ rằng Giáo Hội là một giáo phái chỉ muốn tiền.”
Cha mẹ của Juan Jose không phải là người Công Giáo và cũng chẳng bao giờ dạy dỗ con mình về tôn giáo cả. Cha Juan Jose đã nói rằng thực ra mình cũng chẳng biết tại sao lại ghét đạo như vậy dựa trên cái ý niệm là Giáo Hội và Thiên Chúa chỉ là “một tổ chức đa quốc gia với nhiều chi nhánh ở khắp mọi nơi để kiếm tiến, giống một giáo phái vậy.”
“Tôi nhất định chống đạo. Tôi là học sinh đầu tiên trong trường tôi và trong thành phố Carboneras, thị trấn Almeria không bao giờ chịu học về tôn giáo và môn thay thế tôn giáo của tôi là môn Đạo đức. Cuối cùng cả lớp đều học môn Đạo đức, không còn ai học môn Tôn giáo cả.”
Cha Juan Jose đã không thể ngờ được rằng mình lại chính là người giúp các bạn cũ trở về với Giáo Hội. Cha nhớ rất rõ cái ngày đầu tiên cha tới một nhà thờ Công Giáo với ý định là đến để diễu cợt những người đã mời mình.
“Một ngày vào tháng Giêng năm 1995, một số bạn cùng lớp rủ tôi tham dự một buổi cầu nguyện Canh Tân Đặc Sủng. Dĩ nhiên tôi nói với họ là tôi không đi vì tôi không muốn họ tẩy não tôi. Nhưng họ cứ kiên trì mời tôi mãi cả tháng trời, cuối cùng thì tôi nể tình mà đi theo họ. Tôi nhớ hôm đó là vào ngày Thứ Năm của Tháng Hai, năm 1995, lần đầu tiên tôi bước vào nhà thờ.”
Một cái hộp vàng.
Khi tới nơi tôi thấy rất nhiều các bạn của tôi cũng có mặt ở đó và tôi rất đỗi ngạc nhiên là “tất cả họ đều chăm chú nhìn vào chiếc hộp vàng đặt ở phía cuối nhà thờ. Tôi không biết là hộp gì nhưng cứ nghĩ chắc là hộp đựng tiền của linh mục giáo xứ.”
Sau này tôi biết chiếc hộp vàng đó chính là Nhà Tạm.
Cha Juan Jose nói rằng mình muốn chọc quê các bạn bởi vì “tôi nghĩ họ đã bị điên rồi. Tôi muốn chọc cười họ lắm nhưng vì lịch sự nên tôi cố nén lại và tôi quyết định sẽ trở lại vào Thứ Năm tuần kế tiếp để tìm dịp diễu cợt họ.”
Và cứ thế, qua nhiều ngày Thứ Năm tham dự, cha Juan Jose đã không còn ác cảm với Giáo Hội và tôn giáo nữa.
Cha Juan Jose đã tâm sự với đài CNA rằng “Vị linh mục chính xứ lúc ấy là người rất khôn ngoan giúp đỡ mọi người và dần dần tình yêu của Chúa đã thấm nhập vào tâm hồn tôi. Và rồi vào tuổi 15, tôi bắt đầu hát lễ, điều này có nghĩa là tôi sẽ tham dự Thánh Lễ vào những ngày Thứ Bẩy. Tôi lại cảm thấy thích ngồi trước Nhà Tạm và dần dà tôi nhận ra sự hiện diện của Chúa và Chúa yêu tôi. Tôi bắt đầu yêu Chúa. Nhóm Canh Tân Đặc Sủng, nhóm mà tôi đến để diễu cợt đã giúp tôi rất nhiều.”
“Mắt tôi được mở ra và tôi đã thấy Thiên Chúa không phải là truyện thần thoại, nhưng Chúa hiện hữu, Ngài nâng đỡ và hướng dẫn tôi. Tôi cảm nghiệm rằng Thiên Chúa yêu tôi rất nhiều và chính Ngài đã gọi tôi.”
“Con là của Chúa để Chúa dùng con theo ý Ngài”
Cha Juan Jose đã được rửa tội và rước lễ lần đầu theo mong ước của ông bà nội nhưng mà vẫn chưa cảm thấy gắn bó với Chúa nhiều. Cho mãi đến khi được chịu phép Thêm Sức thì “tôi mới cảm thấy có sự hoán cải và đó chính là món quà tuyệt vời Chúa ban. Tôi đã thưa với Chúa rằng: Con là của Chúa để Chúa dùng con theo ý Ngài! Hôm ấy có sự hiện diện của mẹ tôi, nhưng cha tôi thì không đến. Đó chính là giây phút tuyệt vời trong đời khi tôi lãnh nhận Chúa Thánh Thần và biết phó thác đời mình cho Chúa.”
Thế rồi chàng thiếu niên Juan Jose đã không ngớt trăn trở với tiếng gọi để trở thành linh mục. Chàng đã thưa với Chúa rằng “Con không muốn và xin đừng quấy rầy con nữa.” Cuối cùng thì Juan Jose đã đầu hàng và quyết định theo Chúa để trở thành linh mục.
Cha Juan Jose nhớ lại vào một buổi chiều Thứ Bẩy, chàng thanh niên 17 tuổi lúc ấy, nói với bố mình là muốn đi tu. Thế là ông bố nổi giận đánh cho một trận và đe rằng “muốn chết thì hãy làm linh mục.”
Gia đình của Juan Jose không hiểu được vì sao mà ngài lại muốn trở thành linh mục. Ông bố hứa sẽ trả tiền học phí để Jose theo học đại học ở Hoa Kỳ nhưng sẽ không cho tiền nếu vào học ở chủng viện.
Trong lúc khó khăn như thế, cha Juan Jose đã nhớ lại lời cầu xin của Thánh Teresa of Avila “Xin đừng để bất cứ điều gì làm bạn bị phiền lo, làm bạn sợ hãi. Chỉ Thiên Chúa thôi mới thỏa mãn tất cả những gì bạn cần” và khi ông bố đã nguôi cơn nóng giận thì cha đến ôm hôn bố mình và nói “Con biết là bố sẽ phản ứng như thế, nhưng con cũng biết là một ngày nào đó bố sẽ hiểu.”
Đón chào.
Ông bố của Jose còn phản ứng mạnh hơn nữa là đe đọa sẽ tố cáo cha xứ nếu ngài còn tiếp tục giúp con ông suy tư về ơn gọi tu trì. “Bố tôi đã cố gắng làm mọi thứ để ngăn cản tôi, nhưng Thiên Chúa mạnh mẽ hơn nhiều.”
Để nghe lời bố, cha Juan Jose đã không vào chủng viện, nhưng bắt đầu học ngành sư phạm tại Đại Học Almeria. Qua nhiều năm kiên trì tiếp tục với ơn gọi làm linh mục, vào một ngày của tháng Năm, năm 1999, mẹ của cha báo tin là ông bố đã đồng ý cho cha vào chủng viện. Khi nghe tin vui cha đã bật khóc và “Tôi còn nhớ là khi tôi đến báo tin cho cha xứ, ngài đã ôm chầm lấy tôi.”
Thế là vào tháng Chín, năm 2000, Jose đi vào chủng viện.
Vào năm 2006, cha Juan Jose đã được thụ phong Linh Mục tại nhà thờ chính tòa Almeria, có cả bố của ngài cũng tham dự.
Cha Juan Jose chia sẻ, “Dĩ nhiên bố tôi không muốn tôi làm linh mục vì ông cố chấp lắm, nhưng khi thấy tôi hạnh phúc theo lý tưởng của mình thì bố tôi cũng phải chấp nhận dù ông không thể hiểu nổi.”
Đặc biệt là cách đây hai năm,trước khi chết, “ bố tôi đã nhận phép sức dầu cho bệnh nhân và chính tôi là người đã ban phép sức dầu cho ông.”
“Khi có ai đó nói với tôi là họ không tin vào Thiên Chúa, tôi luôn nói với họ rằng cả tôi cũng đã không tin vào Ngài. Nhưng đó là sự sai lầm của tôi bởi vì tôi đã khám phá ra niềm hạnh phúc tuyệt vời mà Thiên Chúa ban cho tôi. Nếu bạn cảm thấy không hạnh phúc, thì hãy xin Chúa giúp bạn bởi vì chỉ có Chúa mới ban cho bạn niềm hạnh phúc thật mà thôi.”
Giuse Thẩm Nguyễn